Just another WordPress.com site

Hen suyễn có thể được chữa khỏi nếu biết vận dụng khí công vào công tác điều trị. Quan điểm khí công: do phế hư mà hàn, hoặc thực mà nhiệt làm khí uất đưa lên; trẻ em: do nhiệt sinh hỏa tạo ra phong gây đàm kéo.

Nguyên nhân

–          Thực suyễn: do rối loạn tại phế, từ 6 tà khí và thất tình gây nên.

–          Hư suyễn: do thận hay tỳ vị.

+   Thận: thận suy ảnh hưởng lên phổi vì thận chủ nạp khí, phế phát khí do đó thận không thu nạp khí đưa nghịch lên thượng tiêu và sinh ra suyễn.

+   Do rối loạn tiêu hóa, khí của vị đi ngược lên gây khó thở.

Quan điểm tương đồng giữa tây y và đông y:

–          Do tổn thương và rối loạn chức năng phổi, do tiết dịch, đàm kéo.

–          Nguyên nhân tại phổi hoặc ngoài phổi tại tỳ vị, tà khí (môi trường).

–          Vai trò mệnh môn long hỏa tức khí tiên thiên cha mẹ cho, ở tây y là suyễn miễn dịch di truyền.

Tuy nhiên, khí công mô tả khó thở 2 thì, tây y nhấn mạnh khó thở ra, nêu cao vai trò hưng phấn đối giao cảm. Tây y xem suyễn do miễn dịch và không do miễn dịch, khí công thì cho rằng mất cân bằng âm dương ở kinh phế.

Điều trị bằng khí công

–          Thay đổi môi trường sống: tức là tránh tà khí gây dị ứng hoặc xâm nhập hệ phế.

–          Điều độ, không dùng thức ăn thức uống độc hại.

–          Tập luyện đều đặn hàng ngày.

Khí công cho rằng suyễn là do mất cân bằng âm dương, nên lập lại sự cân bằng là thành công. Thở thuận sổ tức không nín, hít vào là dương và thở ra là âm, 2 kỳ bằng nhau sẽ xóa bỏ sự mất cân bằng âm dương. Giải thích khoa học hệ đối giao cảm là âm, hệ trực giao cảm là dương nên sổ tức là điều hòa hệ thực vật này. Khí công vừa giảm âm xuống và vừa nâng dương lên nên sự cân bằng vững bền không gây tái phát.

Tĩnh công: khi không lên cơn thở 2 kỳ bằng nhau, khi sắp hoặc trong thời kỳ lên cơn liên tục thì phải thở theo nhịp 2 – 1 tức là hít vào sâu dài và thở ra nhanh, mạnh để ức chế âm (đối giao cảm) và nâng dương (trực giao cảm), khi ổn định thì chuyển qua 2 kỳ bằng nhau.

Động công: tập những thế tinh hoa dành cho phế kinh, tập bài đơn giản dễ tập là bài thập nhị liên hoa chủ về điều hòa âm dương, hoặc bất cứ một bài khí công nào cũng được nhưng phải có giá trị dưỡng sinh cao, chuẩn xác trong tâm ý khí hình mới mong thành công được.

Cơ sở khoa học của việc điều trị hen suyễn bằng khí công

Chuyển hóa: thư giãn, thả lỏng ngồi lặng yên điều tức nên làm giảm chuyển hóa cơ bản; không hao tốn năng lượng nên thiếu O2 vẫn chịu được dù thở nhẹ nhàng.

Thần kinh: kiểm soát nhịp thở một cách vững chắc nên thắng phản xạ kích thích thần kinh phế vị gây suyễn. Hai nhịp thở ra vào bằng nhau nên quân bình âm dương hoặc hệ thực vật. Thích nghi môi trường làm hưng phấn đối giao cảm nên dù có chất dị ứng cũng không thể kích thích thần kinh phế vị được.

Tâm thần: bằng an tâm trí, thư thái không xúc cảm với mọi cảnh nên không bị rối loạn thực vật gây nên suyễn. Mọi stress đều được hóa giải nên không bị ảnh hưởng gây nên suyễn.

Nội tiết: thở bụng làm máu dồn vào vùng bụng dưới (quan nguyên) và lưng (mệnh môn). Mệnh môn được xem như tuyến thượng thận tiết ra glucocorticoid và catecholamin, có tác dụng hưng phấn trực giao cảm làm hạ cơn suyễn như tây y đã điều trị.

Miễn dịch: khí công giúp cho cơ thể quen dần với hưng phấn hệ đối giao cảm; điều hòa những phản ứng miễn dịch gây nên cơn suyễn.

Hóa học: khí công điều hòa cân bằng bài tiết, ức chế, trung hòa các chất trung gian hóa học gây nên phản ứng dị ứng bộc phát cơn suyễn; biến đổi cơ thể quen dần các với chất hóa học gây bệnh suyễn.

Vận động thể lực có gây nên lên cơn hen suyễn không?

Theo khí công, cơn suyễn thường xảy ra vào giờ dần (3 – 5 giờ sáng) vì giờ dần thuộc mộc mà phổi thuộc kim, kim lại khắc mộc do đó giờ này phổi yếu nhất.

Cơn suyễn xảy ra sau một sự gắng sức do bởi cơ chế sau:

–          Khi gắng sức cả 2 hệ đối và trực giao cảm đều hưng phấn nhưng hệ beta giao cảm giãn cơ ưu thế hơn nên phế quản giãn nở. Lúc ngưng gắng sức thì hệ giao cảm hết hưng phấn nhưng hệ đối giao cảm vẫn tiếp tục hưng phấn nên phế quản bị co thắt.

–          Lúc gắng sức mastocysts bị kích thích và phóng thích những chất trung gian gây co thắt phế quản như histamin, SRSA (chất phản vệ chậm), đồng thời hệ trực giao cảm hưng phấn mạnh nên phế quản giãn. Khi ngưng gắng sức, hệ giao cảm trở về bình thường thì những chất trung gian còn lại tác động gây co thắt phế quản.

Do đó, muốn phòng ngừa cơn suyễn sau gắng sức ta phải thở sổ tức sau gắng sức để lập lại thế cân bằng của hệ thực vật trong một thời gian ngắn.

Tập khí công để làm chủ hơi thở cân bằng đối và trực giao cảm trong lúc gắng sức không có hiện tượng đối giao cảm hưng phấn sau khi gắng sức.

Yếu tố tâm lý có gây nên bệnh hen suyễn không?

Thực tế không có bệnh hen suyễn do tâm lý (thất tình lục dục). Yếu tố tâm lý chỉ đóng vai trò là một gai kích thích lên cơn hen ở người đã có bệnh hen từ trước.

Theo tây y, yếu tố tâm lý tạo cơn hen bằng những cơ chế:

–          Tăng IgE tại phế quản tạo ra mẫn cảm hóa.

–          Qua vùng dưới đồi thị, làm phế quản tăng tiết histamin và acetylcholin.

–          Qua đồi thị, ức chế các chất đối kháng với histamin.

Tâm lý là tiền đề của phản ứng miễn dịch và làm mất cân bằng hệ trực và đối giao cảm, thiên về đối giao cảm. Khí công có thể giải quyết yếu tố tâm lý bằng 3 mặt như sau:

–          Xóa bỏ tạp niệm, bế quan không để cho xung kích (stress) xâm nhập.

–          Qua điều hòa hơi thở làm cân bằng hệ trực và đối giao cảm.

–          Kiểm soát được vỏ não làm yên ổn hệ thần kinh trung ương, xóa bỏ những phản xạ tâm lý có thể gây nên cơn suyễn.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Tag Cloud

%d bloggers like this: