Just another WordPress.com site

Phục Hồi Sức Khoẻ Cho Bệnh Nhân Ung Thư Sau Hoá Liệu Và Xạ Liệu – Phần 1 ( Cập Nhật Liên Tục)

thuannghia | 23 June, 2008 02:47

” Biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng” – Binh pháp cổ. Chống lại Ung Thư là một trận đánh quyết tử, mà ta yếu địch mạnh. Ta ngoài sáng, địch trong tối. Ta bị động, địch chủ động. Trong một thế trận éo le như vậy, muốn có được chiến thắng chúng ta cần phải có một Đồng Minh vững chắc, tin cậy và nhiệt huyết. Đồng minh đó là Chính Bệnh nhân và Thầy thuốc. Lạc quan và tin tưởng là yếu tố quyết định cùa Bệnh Nhân, Sáng suốt, nhạy bén, và nhiệt tình đó là yếu tố quyết định của Thầy thuốc. Thiếu sự kết  hợp Đồng Minh đó, và thiếu các đều kiện quyết định của đối tác, thì cơ hội cho sự chiến thắng rất mỏng manh. Vì vậy mà bệnh nhân sau Hoá liệu và xạ liệu cần lưu ý : sự lạc quan, và tin tưởng của bệnh nhân là một yếu tố cực kỳ quan trọng, chính đó mới là yếu tố quyết định để chúng ta tạo thế cân bằng lực lượng, để cuộc chiến tránh được tổn thất và có cơ hội thành công nhiều hơn. Nếu các bạn chỉ tin tưởng vào các liệu pháp y tế, mà bỏ qua yếu tố Tâm trạng của bệnh nhân, là bạn đã phạm một sai lầm rất lớn trong cuộc chiến này, và xác suất thành công của cuộc chiến có một con số hết sức khiêm tốn. Và có thể nói đó là một cuộc chiến cầu may. Chính vì lý do đó mà việc giải thích cơ chế của Bệnh Ung thư cho bệnh nhân hiểu. và làm cho họ hiểu rằng không có một thầy thuốc nào Tài ba , không có một dược liệu nào, không một Y thuật nào có thể tốt hơn Cơ Thể của chính họ được.  Từ đó tạo cho họ một niềm tin vững vàng vào chính bản thân họ, để họ lạc quan với cuộc sống, đón nhận sự hỗ trợ từ các biện pháp y tế là việc làm có tính tiên quyết và quyết định cho cuộc chiến này. ( Bài phát biểu trong hội thảo về Các Phương Pháp Tự Nhiên Phục Hồi Sức Khoẻ Sau Xạ Liệu- Quảng Nhẫn Lê Thuận Nghĩa)

 Vài Lời Với Người Muốn Đọc Bài Này

Bạn có thể nói ” ..không cần dài dòng đâu, cứ đưa phương pháp cụ thể ra, nếu hợp lý, có sức thuyết phục thì chúng tôi ứng dụng thử”. Vâng! thật đơn giản, tôi sẽ viết ra ngay, chỉ cho bạn một phương pháp luyện tập, cho bạn một toa thuốc cổ truyền, hay một vài loại dược thảo bí truyền nào đó, đã được chúng tôi ứng dụng lâm sàng có hiệu quả. Nhưng thú thật là không có hiệu quả như mong muốn đâu. Qua sưu tầm và nghiên cứu, phân tích, ứng dụng lâm sàng các toa thuốc cổ truyền, cũng như các loại dược thảo điều trị ung thư, chúng tôi thấy, tác dụng của nó khác nhau trên các bệnh nhân khác nhau. Cùng một loại Ung thư, cùng một liệu trình Hoá trị giống nhau, nhưng khi vận dụng các phương pháp của chúng tôi, thì hiệu quả không giống nhau. Có người thì phục hồi nhanh chóng, tránh được di căn. Có người người thì sức khoẻ phục hồi chậm, nhưng tránh được di căn, cũng có người vừa phục hồi chậm, vừa không tránh được di căn. Việc đó cũng giải thích được vì sao các toa thuốc dân gian, chữa cùng một thứ bệnh, với người này thì có tác dụng, với người kia lại không. Theo tài liệu thống kê của chúng tôi thì kết quả Phục hồi nhanh, tránh được di căn hầu hết có ở những người lạc quan, tin tưởng và am hiểu về chứng bệnh, cũng như am hiểu về nguyên lý điều trị của chúng tôi. Và đặc biệt những người thực hiện liệu pháp của chúng tôi xen kẽ giữa các đợt hoá liệu, thì kết quả rất tốt. Nói tóm lại Bệnh nhân nào được trang bị trạng thái tâm lý tốt, trong đó bao gồm cả việc hiểu biết nguyên lý điều trị, thì xác suất  thành công được tăng lên gấp 50 đến 70 % . Qua con số đó để khẳng định rằng việc phục hồi sức khoẻ sau Hoá liệu nói riêng, cũng như phòng chống Ung thư nói chung, lấy việc xây dựng một trạng thái tâm lý tốt cho bệnh nhân làm nền tảng cơ bản cho nguyên lý của Phương Toa.

Vì vậy trước khi ứng dụng trị liệu, cho phép tôi được trình bày các cơ sở lý luận thành lập nên phương toa, để hình thành một niềm tin có căn cứ cho các bạn.

                  NGŨ LỘ Y ĐẠO VỚI ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

Bạn sẽ ngạc nhiên với một cụm từ  lạ, có thể nói là chưa nghe bao giờ, nếu bạn không am tường về y lý cổ truyền. Và với những người trong nghề cũng có thể xa lạ. Vì khái niệm Ngũ Lộ Y Đạo tôi đọc được trong một Y thư chép tay của Thanh long phái . Khi tra  các tài liệu về y lý cổ truyền, không nhắc tới khái niệm này. Mà chỉ có Nhị lộ y đạo mà thôi.

Ngũ Lộ Y Đạo là 5 trường phái, 5 con đường, 5 sở trường, hay có thể hiểu là 5 phương pháp hành nghiệp của Y- Đạo. Các tài liệu cổ chỉ phân thành Nhị đạo. Đó là Vương đạo và Bá đạo. Còn tài liệu của Thanh long phái thì phân thành 5 đạo ( tôi là hậu duệ đích truyền của Thanh long phái). 5 Đạo đó là: Thánh đạo- Vương đạo- Bá đạo- Kỳ đạo- và Ma đạo. Ý nghĩa của Ngũ Lộ Y Đạo như sau:

1)    Thánh Đạo: Là phương pháp người thầy thuốc dùng Y đức, và Tài năng cũng như Danh vọng  và Định lực của mình, khai mở tâm linh, hướng bệnh nhân đến cảnh giới Tiểu, Đại ngã hợp nhất( Con người và Vũ trụ). Để vận dụng năng lực vô tận của cơ thể trong việc tự trị bệnh, cũng như đánh thức tiềm lực, tiềm tàng của cơ thể hướng đến khả năng tự phục hồi các chức năng bị thoái hóa, và điều hòa quân bình trạng thái  phát triễn tự nhiên của cơ thể. Phù hợp với Thánh đạo là các nhà Khí công, Các Vị Đạo Sư…

2)    Vương Đạo: là các phương pháp thành lập phương toa trị bệnh theo chiều hướng lấy chính khí làm gốc. Có nghĩa là dùng dược thảo và các y thuật khác, làm cho chính khí của bệnh nhân tăng vượng lên, trong đó Vinh khí có tác dụng bồi bổ chức năng hoạt động của cơ thể, Vệ khí có tác dụng bảo vệ, và đề kháng lại các yếu tố gây bệnh. Chính khí thịnh vượng, thì tà khí ( yếu tố gây bệnh) không có cơ hội thâm nhập, và hoành hành nữa. Khi chính khí được hưng vượng, mới dụng phép khu trục, tả, hạ .. để trợ giúp. Vương đạo thích hợp cho việc phòng bệnh, và điều trị những bệnh tuyệt chứng, bệnh kinh niên…..(Trị ở gốc)

3)    Bá Đạo: Là phương pháp thành lập các phương, toa theo chiều hướng công phạt, lấy việc khu trục tà khí làm gốc. Có nghĩa là bệnh đến, thì tùy chứng mà dụng đối thuật ( Trị ở ngọn), hiểu nôm na là dập tắt triệu chứng. Bá đạo có lợi thế trong các bệnh cấp tính. Các phương pháp trị bệnh của Tây y hầu hết thuộc về Bá đạo như mổ xẻ, hóa dược….Thông thường một Thầy thuốc giỏi, là người biết kết hợp nhuần nhuyễn, và hợp lý giữa Vương Đạo và Bá Đạo. (Người nặng về Vương đạo thì hành nghề vì Y đức. Người nặng về Bá đạo thì hành nghề vì Y danh…Trương Trọng Cảnh)

4)    Kỳ Đạo: là Y thuật trị bệnh bằng những phương pháp kỳ lạ, dị thường, thoát ra ngoài lý luận thông thường của Y-lý. Ví dụ như các phương pháp thôi miên, nhân điện, Sư tử hống… và các phương pháp dị thường khác có trong dân gian. Đặc điểm của Kỳ đạo, là bệnh được chữa trị khỏi một cách khác thường, rất khó lý giải bằng lý luận của Y lý, cũng như rất khó làm sáng tỏ bằng khoa học thực dụng. Kỳ đạo thường được những Kỳ nhân, Dị sĩ ứng dụng. Họ qua quá trình luyện tập, hoặc qua một nhân duyên nào đó, mà tạo hoá ban cho họ những năng lực đặc biệt. Và họ đã ứng dụng những năng lực đặc biệt đó vào trong việc chẩn trị bệnh tật.

5)    Ma Đạo: là những Y thuật lợi dụng sự mê tín của bệnh nhân, để dùng những phương pháp không có căn cứ cơ bản của Y lý để trị bệnh. Ví dụ như bùa, ấn, chú, ngải, cúng kiếng, lập đàn, cầu tụng, cúng sao, lên đồng, nước thánh….Phương pháp này đáng chê trách, nhưng cũng không thể phủ nhận được những hiệu quả khác thường của nó. Đặc điểm của Ma Đạo là lợi dụng lòng tin tuyệt đối của bệnh nhân vào một thế lực siêu nhiên nào đó để tác nghiệp. Chính lòng tin tuyệt đối đó, được sự củng cố, thúc đẩy của các Ma thuật, làm chấn động, thức dậy, những tiềm tàng năng lượng thần kinh (Khí) trong cơ thể của bệnh nhân. Chính đó mới là tác nhân làm cho bệnh nhân khỏi bệnh. Trên thực tế, trong dân gian còn khá thịnh hành Ma Đạo. Bởi vì nó cũng có thành quả nhất định. Chính hiệu quả đó đã khẳng định sự tồn tại của Ma Đạo trong hệ thống Y thuật. Ma Đạo vẫn còn rất thịnh hành ở các dân tộc thiểu số ở nước ta, và rất phổ biến ở các bộ lạc ở châu Phi ( chúng tôi đã có nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này ở châu Phi, Tây tạng, Ấn độ và Mã lai)

Quay trờ lại vấn đề chữa trị Ung thư. Vậy thì những phương pháp chữa trị Ung thư của Y học hiện đại, được xếp vào trong Lộ nào của Ngũ Lộ Y Đạo?.

Cho đến nay Y học hiện đại cũng chỉ có ba phương pháp chủ yếu để chữa trị có hiệu quả. Đó là Ngoại khoa: tức là giải phẫu tách khối u ra khỏi cơ thể. Hoá liệu: Dùng hoá chất đặc biệt để phân huỷ khối u. Xạ liệu: dùng năng lượng của các sóng ánh sáng có tần số ngắn để bắn phá đốt cháy, thiêu huỷ khối u. Ngoài ra  còn có các phương pháp kết hợp đồng thời giữa 3 phương pháp trên như giải phẫu kết hợp với xạ liệu, Giải phẫu với Hoá liệu, Xạ liệu với Hoá liệu. Trong một vài trường hợp cũng có thể kết hợp cả 3 phương pháp.

Theo như đặc điểm đặc thù của Ngũ Lộ Y Đạo, thì các phương pháp chữa trị Ung thư hoàn toàn thuộc vào Bá Đạo. Việc sử dụng phương pháp Bá Đạo, để loại bỏ khối u là một Y thuật cần thiết, để kịp thời ngăn chặn sự phát triễn của tế bào Ung thư, bảo vệ tính mạng của bệnh nhân. Nhưng chỉ vì, chỉ sử dụng Bá Đạo mà ít quan tâm đến Vương Đạo,nên các phương pháp chữa trị của Tây y thường để lại những di chứng rất tàn khốc trên cơ thể của người bệnh. 

Phương pháp Hoá liệu ngoài tác dụng tích cực là phân huỷ khối u, thì nó còn là một cuộc đầu độc cơ thể. Tác dụng của hoá chất đặc trị được định hướng tác dụng đến khối u để phát huy tác dụng, thì nó cũng đồng thời tàn phá một cách thảm khốc các cơ quan nội tạng khác, Như Gan, Thận, Lá lách, Ruột non, Tuỷ sống, Tế bào thần kinh …Tương tự  xạ liệu cũng vậy. Chính tác dụng phụ của xạ liệu và Hoá liệu đã làm cho Chính khí của cơ thể cạn kiệt, làm cho huyết sắc điêu tàn. thần sắc phát tán, tinh thần bạc nhược, da tái xanh xao vàng vọt, vật vờ hoảng loạn, râu tóc rụng, tai ù…. Một đặc điểm nữa là dù có bồi bổ bao nhiêu thì khả năng phục hồi rất chậm chạp. Chưa nói là xác suất di căn cũng không đảm bảo được rõ ràng. Khi chúng tôi bắt mạch những người sau Xạ liệu, thì thấy khí huyết mỏng manh như sợi tơ, mạch hư nhược đến hãi hùng. Đo trên máy đo sinh khí(Prognos- Diagnose- một loại máy đo khí huyết được Nga và Trung quốc kết hợp nghiên cứu dựa trên nền tảng Y-lý cồ truyền Trung Hoa) thì thấy biểu đồ Sinh lực (enegie) chỉ còn 20 đến 35 %. Điều đó chứng tỏ thể Khí của người bệnh đã thất tán, cạn kiệt hết. Kinh mạch trống rỗng, cho nên Khí không đủ để vận huyết đi khắp châu thân. Đấy là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc lập thành Phương-Toa trị liệu sau Hoá liệu. Vì Khí không đủ cho nên có bồi bổ huyết mạch bao nhiêu cũng không có kết quả.

Như đã trình bày trên, Xạ- Hoá liệu là một cuộc đầu độc, tàn phá cơ thể rất Bá đạo. Di chứng của nó là một cơ thể bị đầu độc và đã cạn kiệt sinh khí. Vì vậy thành lập phương toa sau xạ liệu dựa vào 2 nguyên tắc cơ bản. Đó là Giải độc, và Bồi bổ chính khí.

Một điểm bất lợi cho người thầy thuốc Đông y đối với cách thành lập phương toa này là sự xung khắc của hai nguyên lý trên. Giải độc thuộc về phép Đại tả có nhiệm vụ đào thải khu trục các chất độc do hoá dược để lại đang làm tổn hại đến chức năng vận động của các cơ quan nội tạng, đặc biệt là Gan và Thận. Còn bồi bổ chính khí thuộc vào phép Đại bổ. Hai phương pháp này có các thành phần dược liệu, và thủ thuật trái ngược nhau, nên rất dể triệt tiêu tác dụng.

Nếu không giải độc trước, mà vẫn dụng phép bồi bổ chính khí, thì tác dụng của dược liệu không được phát huy, vì chất độc đã hoá giải tác dụng của dược liệu. Nếu giải độc trước, rồi mới dụng phép bổ, thì rất nguy hiểm. Vì Sinh khí đã cạn kiệt, mà dùng phép đại tả thì khác nào vét cạn đi sinh lực cuối cùng của bệnh nhân.

Hai phương pháp này phải tiến hành đồng thời. Lúc này lại nảy sinh ra vấn đề, làm thế nào để dung hoà hai phương pháp trái ngược nhau được. Trong các pháp trị liệu cổ truyền,có pháp bình bổ, bình tả. Nhưng pháp này chỉ thích ứng với các bệnh ôn hoà. Dùng Bình bổ, bình tả trong trường hợp sau xạ liệu chỉ có tính nhỏ giọt, như muối bỏ biển.

Sau khi cân nhắc, và tham khảo nhiều tư liệu, cũng như thông qua kinh nghiệm lâm sàng, Chúng tôi quyết định Phương Toa, Giải độc cục bộ, và Bồi bổ cục bộ.Có nghĩa trong cùng một lúc dụng phép giải độc ở bộ phận này, đồng thời bồi bổ ở cơ quan khác.

Các cơ quan nội tạng, không phải đơn giản như ly tách, thì làm sao muốn rót vào ly nào thì rót, muốn hất đổ ly nào thì đổ được?

Đây là thành công của sự tìm tòi, nghiên cứu của chúng tôi.

Ngoài việc gia giảm các vị thuốc có  tính chất dẫn dụ thích ứng với từng nội tạng khác nhau. Thì dùng định lực của Khí công để dẫn thuốc là tốt nhất. Loại khí công nào có thể dễ luyện tập, và dễ dẫn khí đến từng nội tạng. Chúng tôi đã chọn Lục Tự Khí Công, để ứng dụng thử nghiệm, thì kết quả vượt quá khỏi mong muốn.

Tóm lại từ những nguyên tắc đó chúng tôi đã hình thành một phương toa trị liệu sau xạ liệu có hiệu quả rất mĩ mãn.

Nội dung của Phương- Toa như sau:

–         Giải độc : bằng cách dùng nước uống từ dược liệu có tính năng tác dụng giải độc thích ứng từng bộ phận ( sẽ trình bày ở phần ứng dụng)

–         Bồi bổ chính khí: bằng phương pháp ẩm thực, thông qua cách chế biến thức ăn kết hợp giữa thực phẩm và dược thảo

–         Luyện tập Lục Tự Khí Công, đây không những là phương pháp tạm thời ứng dụng cho phương toa này, mà còn là một phương pháp luyện tập lâu dài, để bồi  bổ chính khí, và phòng chống di căn, bảo vệ sức khoẻ lâu dài.

–         Uống thuốc được bào chế từ dược thảo chuyên dụng, phòng chống di căn.

Qua nội dung của Phương toa như vậy, thì một điều quan trọng không thể thiếu được trong liệu pháp đó là việc luyện tập Lục Tự Khí Công.

Vì vậy riêng phần 2 của bài viết này Tôi sẽ trình bày cụ thể về Lục Tự Khí Công và những ảnh hưởng vô cùng kỳ diệu của một môn khí công đơn giản đến với việc phòng chống bệnh nan y nói chung và bệnh Ung thư nói riêng

 


 

LỤC TỰ KHÍ CÔNG VÀ BỆNH UNG THƯ

thuannghia | 26 June, 2008 02:41

THƯA CÁC BẠN
Bạn là người vừa mất một người thân vì căn bệnh ung thư quái ác. Bạn là người vừa trải qua một cuộc phẫu thuật mà tính mạng ngàn cân treo đầu sợi tóc, để tách khối ung ra khỏi cơ thể. Bạn là người đang phải thực hiện một cuộc hoá liệu đầy khó khăn và nguy hiểm. Bạn đang kinh hoàng và suy sụp khi biết kết quả thử máu có tế bào ung thư dương tính. Bạn là một chuyên viên y tế chuyên ngành ung bướu. Bạn là một bác sĩ tốt nghiệp ở một trường y khoa nổi tiếng Châu Âu…Tất cả đều cười vào mũi tôi, và sẽ có người nói tôi khờ khạo, và thậm chí có người sẽ thốt lên “Đồ khùng”. Đúng thôi! Vì với một nền y học hiện đại, cùng với một đội ngũ chuyên viên y tế, các nhà khoa học lừng danh thế giới, nắm trong tay những trang thiết bị tối tân nhất của thời đại tin học, mà khi biết có người mắc bệnh ung thư, tất cả đều coi như người đó đang nắm trong tay cái trát gọi của thần chết. Mà tôi lại lếu láo định làm chuyện vá trời lấp bể với mấy cái thở ra, hít vào…

Bạn đúng, nhưng tôi cũng không sai!

Bạn đúng vì thực tế là như vậy, Với một nền y khoa hiện đại, nhưng hàng năm trên thế giới đã bị căn bệnh hiểm ác này cướp đi hàng trăm ngàn sinh mạng. Và cuộc chiến chống lại ung thư, chỉ đưa lại những kết quả rất khiêm tốn.

Tôi không sai, vì tôi tin vào sự kỳ diệu của cơ thể. Bạn nghĩ rằng chỉ có những người bất hạnh mắc bệnh này mới có tế bào ung thư ư. Bạn đã nhầm rồi đấy.

Chỉ trong một thời khắc ngắn ngủi, trong cơ thể của bạn đang xảy ra hàng triệu triệu quá trình sinh tử. Chỉ trong vòng mấy phút thôi, trong cơ thể của bạn có hàng triệu tế bào đang sinh ra, có hàng tỷ tế bào đang tồn tại và làm nhiệm vụ của mình, và cũng có triệu triệu tế bào đang già, và chết đi. Trong hàng tỷ tỷ quá trình đó, trải dài từ năm này qua tháng nọ, há chẳng có một sai lầm nào ư. Thực ra ở bất kỳ thời điểm nào, trong cơ thể của bạn cũng đều có sự hiện diện của những tế bào không tuân theo qui luật phát triển và tồn tại của cơ thể, đó là nhưng tế bào ung thư. Có sự tồn tại của nó nhưng không có nghĩa là bạn là bạn đã mắc bệnh ấy. Chính cơ thể của bạn đã kịp thời khống chế, và đào thải những “đứa con sai lệch” đó ra khỏi sự vận động của sự sống.

Chỉ trừ khi, những Tế Bào Bất Thường đó, Bất Thường Gặp Nhau trong một Thời Điểm Bất Thường, cùng ở một Vị Trí Bất Thường, và kết hợp thành bè đảng, rình rập thoát ra khỏi sự kiểm soát của cơ thể, và sau đó mới đâm rễ, mọc chồi và kết thành những “Đoá Hãi Hùng” dâng tính mạng lên cho thần chết. Bệnh ung thư hình thành phải có hội đủ những điều kiện đó. Mà để hội đủ những đều kiện đó đâu phải dễ dàng. Cơ thể của chúng ta có một năng lực kỳ diệu, để luôn luôn bắt các tế bào phải tuân theo những qui luật phát triển tự nhiên. Cơ thể luôn theo dõi, kiểm soát từng quá trình hoạt động vi tế nhất của tế bào, kịp thời uốn nắn những sai lệch, trong quá trình sinh trưỡng và tồn tại của tế bào. Chỉ vì lỗi của chúng ta, đã vô tình chồng chất lên cơ thể một áp lực thần kinh nặng nề (stress). Chúng ta đầu độc cơ thể bằng những thói quen vô bổ ( bia, rượu, thuốc lá…). Chúng ta giăng bẫy vào môi trường bằng các sóng cực ngắn, bằng những hoá chất thải ra từ nền công nghiệp hiện đại.. để đẩy cơ thể của chính chúng ta vào một tình trạng quá tải. Cơ thể hoạt động trong một trong một tình luôn bị đe doạ mất cân bằng sinh thái. Chính sự quá tải đó của cơ thể đã làm giảm sút đi năng lực tự kiểm soát, và khống chế hoạt động nội tại. Đó là thời cơ để những tế bào sai lệch tái bản những tế bào sai lệch khác trong quá trình phân chia. Hình thành một lực lượng Tế Bào Bất Thường đáng kể, để chúng chờ thời cơ gặp gỡ nhau, ở những Vị Trí Bất Thường trong cơ thể, như những nơi bị viêm nhiễm thường xuyên, những nơi sức đề kháng của cơ thể giảm sút, hoặc bị đầu độc. Khi những điều kiện đã hội đủ, Cơ thể rối loạn  chức năng kiểm soát, các tế bào bất thường đó bắt đầu sinh sôi và thoát ra ngoài sự khống chế qui luật phát triển, vận động, và giới hạn hình dáng của nội tạng. Khối u hình thành và bắt đầu phát triển không ngừng, và sự khủng khiếp hãi hùng đã xảy ra. Làm thế nào để cơ thể phục hồi lại chức năng kỳ diệu của mình. Để nó tự nó điều tiết lại những sai lệch tai hại của tế bào. Có một phương pháp làm được điều đó. Đó là các phương pháp Dưỡng Sinh Khí Công.
Đến lúc này chắc bạn vẫn còn nghi ngờ điều tôi đã nói, vì trước mắt bạn đang có hàng triệu hồ sơ bệnh án của những người xấu số. Có hàng đống tài liệu từ những cuộc hội thảo của những nhà khoa học lừng danh thế giới về lĩnh vực này…và hàng ngày, hàng giờ vẫn có hàng nghìn, hàng vạn người nằm xuống vì căn bệnh quái ác này.

Thưa các bạn! giải thưởng Nobel về Y học được trao trong năm 1998, cho đề tài khoa học giải mã quá trình phân huỷ nguyên liệu để tạo thành năng lượng sóng (enegie) trong nhân tế bào. ( Zellatmung – NO- Gas – Mitocholdrien ). Công trình khoa học này đã lý giải quá trình hình thành năng lượng qua việc phân huỷ các phân tử NO (gas) ở thể hình gậy ( Miticholdrien) trong nhân tế bào. Quá trình phân huỷ này xảy ra 5 giai đoạn thứ tự từ 1-2-3-4-5 gọi là nhịp thở tế bào ( 5 phase zellatmung). Quá trình này luôn xảy ra theo một trình tự nhất định từ 1 đến 5. Nếu vì một nguyên nhân nào đó quá trình phân huỷ không tuân theo thứ tự, mà bi rối loạn pha, ví dụ như quá trình phân huỷ theo thứ tự 3-1-2-4-5 chẳng hạn. Quá trình sai lệch này sẽ được tế bào sao chép trong quá trình phân chia, và tạo nên một thế hệ tế bào sai lệch khác, đó là những tế bào ung thư. Có một trung tâm năng lượng vô hình trong cơ thể kiểm soát và khống chế để quá trình phân huỷ này tuân theo thứ tự nhất định. Ngoài ra còn kịp thời, điều tiết lại những sai lệch vừa xảy ra. Trung tâm năng lượng đó thuộc cơ quan nào, nó nằm ở đâu, quá trình hoạt động của nó như thế nào, cho đến nay người ta vẫn chưa lý giải được. Nhưng họ vẫn khẳng định sự tồn tại hiển nhiên của nó. Người ta cho biết những trung tâm năng lượng đó tồn tại như những cánh của vô hình mở ra để nối cơ thể với những trung tâm năng lượng khác của bên ngoài vũ trụ. Và lý thuyết đó trùng hợp với những khái niệm về Chaka trong Yoga, khái niệm về Vòng Tiểu Chu Thiên, Đại Chu Thiên trong các môn khí công, hoặc rất gần gũi với thuyết Khí hoá, kinh mạch huyệt vị của Y-lý Á Đông. Khi những trung tâm năng lượng đó bị tồn hại, suy yếu, hoặc mất cân bằng, thì khả năng kiểm soát, và khống chế quá trình phân huỷ năng lượng trong nhân tế bào cũng bị rối loạn. Từ đó mà hình thành một thế hệ tế bào bất bình thường, trong đó có cả những tế bào bị đột biến nhiểm sắc thể. Đó là nguyên nhân của Ung thư và các hội chứng suy chức năng khác

Khí Công Dưỡng Sinh là một kỷ thuật kết hợp giữa sự vận động và hơi thở nhằm mực đích điều hoà cơ thể, phù hợp với sự vận động của các qui luật tự nhiên. Hay nói cách khác đây là một thao tác trực tiếp tác dụng lên Trung tâm năng lượng nói trên.

Đến lúc này thì bạn đã hiểu vì sao tôi lại nói, chính cơ thể của Bạn mới là người thầy thuốc vĩ đại nhất cho sức khoẻ của bạn. Và Bạn cũng sẽ hiểu tinh thần lạc quan và tin tưởng tuyệt đối vào  năng lực kỳ diệu của cơ thể, mới là yếu tố quyết định cho sự thắng lợi trong cuộc chiến chống lại các bện nan y.

Bây giờ các bạn đã tin điều tôi đã nói, và sẽ rất hiếu kỳ muốn cùng tôi thám hiểu một môn công phu đơn giản nhưng có hiệu năng thật phi thường trong việc bảo vệ sức khoẻ và tính mạng của chính mình: Đó là Lục Tự Khí Công

 

Lục Tự khí công ( Chương I )

thuannghia | 30 June, 2008 20:21

LỤC TỰ KHÍ CÔNG

MỘT MÔN CÔNG PHU ĐƠN GIẢN DỄ THỰC HÀNH NHƯNG CÓ HIỆU QUẢ PHI THƯỜNG TRONG VIỆC PHÒNG NGỪA VÀ TRỊ BỆNH BẢO VỆ SỨC KHỎE

                  Institut für Traditionalle Chinesiche Medizin

VIỆN NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG Y-HỌC CỔ TRUYỀN TRUNG-HOA

Thay cho lời nói đầu:

I“…126 hơi thở, thời khắc đặng có bao nhiêu, so với thời gian  đằng đẵng của một đời người. 126 hơi thở, thời gian chỉ để di dời năm bảy bước chân ngoảnh đầu qua lại mấy lần đã hết, thế mà công năng thần diệu vô cùng, trong thì đẩy lui bá bệnh, ngoài thì hóa hợp với thiên nhiên, tâm tư thảnh thơi như trăng thanh gió thoảng, thân thể vững bền như núi như sông. Thế mà người đời nay cứ say mê tửu sắc, hoang phí thời gian vào chuyện
hưởng lạc của đời thường, chỉ có 126 hơi thở cũng không chịu bỏ công ra  mà dụng tập, để cho Âm – Dương rối loạn, khí lực của châu thân hư hao cạn kiệt, bệnh tật nảy sinh thống khổ vô cùng. Các con dấn thân vào y nghiệp mang danh làm bậc Từ-mẫu của thiên hạ, nên lấy Y-đức làm trọng mà muốn lấy Y-đức làm trọng thì việc đầu tiên là khuyên nhủ người người nhắc nhở con bệnh cố gắng rèn luyện dưỡng sinh, bồi bổ chính khí, đó
là căn cơ cho việc bảo vệ sức khỏe. Được vậy mới thực trọn tình người Mẹ,  chứ để người ta tìm đến khi đã nhuốm bệnh, lúc đó mới trổ tài ra toa, thảo phương, rồi công rồi phạt, rồi bồi bổ,  rồi cố sáp…Chỉ cần một sai lầm nhỏ trong Vọng, Văn, Vấn, Thiết một tý sơ suất trong Quân-thần-tá-sứ, Chánh-Phản, Vi-Tà… thì có khác chi là hành nghề bá đạo trong Y-thuật Nếu như quần sinh chưa tin tưởng vào diệu pháp nơi việc luyện tập
lục tự khí công, bởi do công pháp quá đơn giản, thời gian dụng pháp ngắn ngủi mà hiệu năng thần hóa đến khó tin thì đó là cái lỗi của Y-sư chưa đủ Y-đức cảm hóa người khác vậy. Lúc ấy phải tàng trữ lấy Chân nguyên, thâu nhiếp lấy tinh lực từ việc luyện tập Lục tự quyết mà cứu trị cho người ta, ngoài việc bồi dưỡng Y-lực, còn phải tích lấy Y-đức,
củng cố Danh phận, từ đó lấy thân phận của Danh-y độ trí cho quần sinh hiểu rằng : Tự mình rèn luyện dưỡng sinh, nâng cao chính khí cho cơ thể, tất thì Vinh – Vệ cường tráng, Tạng- Phủ điều hòa, ngoài thì chẳng sợ tà khí hung hiểm, trong thì không lo nội thương quấy nhiễu. Lúc gặp chuyện bất thường, Nội khí bấy lâu đã được tu dưỡng tự động
điều tiết, cân bằng thì bệnh tật  còn có cơ hội nào mà hoạnh phát đó mới là pháp bảo mệnh thượng thừa nhất …”

                                     (trích Tổ huấn của Thanh Long Y phái)

XUẤT XỨ CỦA LỤC TỰ KHÍ CÔNG

Sách Nội kinh, một cuốn sách như là kim chỉ nam cho toàn bộ nền Y-lý cổ truyền Đông phương,và cũng là nền tảng cơ sở cho mọi lý luận về nguyên tắc chẩn bệnh và trị bệnh cuả y học cổ truyền có  viết : “Người đời thượng cổ, biết phép dưỡng sinh, thuận theo qui luật Âm-Dương của bốn mùa biết tu thân dưỡng thần, ăn uống có chừng mực, làm lụng nghỉ ngơi có kỷ luật, không vô cớ hao tổn tinh lực, cho nên thân thể họ cường tráng, tinh thần họ phấn chấn sống mãi đến trọn tuổi trời cho..”  Phép dưỡng sinh mà sách Nội kinh đề cập tới, theo quan niệm của người xưa là thuận theo trời đất, năm tháng 4 mùa dựa vào âm dương mà hô hấp tinh khí của vũ trụ bồi bổ nội khí của thân thể, tu dưỡng tinh thần, hòa hợp với thiên nhiên. Đó không những là cơ sở mấu chốt của các môn Nội công, Khí công, rèn luyện dưỡng sinh theo phong cách Á-đông hiện nay, mà còn là một cơ sở lý luận mang tính khoa học, có sức thuyết phục rất cao trong việc bảo vệ sức khỏe con người.Trong công cuộc giao lưu văn hóa giữa Đông và Tây, một xu thế phát triển  văn minh của thế kỷ 21, thì những cơ sở lý luận cũa Y-học cổ truyền Á-đông đóng một vai trò cực kỳ quan trọng, nó không những đã thuyết phục, mà còn được Y-học hiện đại thừa nhận như một môn Y-học thực nghiệm, tồn tại song song với các bộ môn Y-khoa hiện đại khác. Đặc biệt trong việc rèn luyện sức khỏe, phòng chống bệnh tật, đẩy lui những căn bệnh hiểm nghèo, thì những phương pháp của Y-học cổ truyền Á-đông lại được xem trọng hơn, bởi vì ngoài vấn đề đạt được hiệu quả cao, những phương pháp ấy lại được thực hiện đơn giản, chi phí thấp, và dễ dàng phổ cập trong đại chúng. Bởi vì vậy chúng ta chẳng lấy gì làm  ngạc nhiên, trong những năm gần đây ở phương Tây nhan nhản khắp nơi có các Trung tâm Y-tế, trường học, phòng mạch, bệnh viện…nghiên cứu và quảng bá các phương pháp trị bệnh như: Châm cứu (Akupunktur), Bấm huyệt(Akupressur), Yoga, Khí-công (Qi-gong), thuốc Bắc (Chinesiche Kräuter Medizin) Vệ- đà (Ayurveda ), Thái-cực-quyền (Tai-tshi)  v..v.. Và những phương pháp đó đã được các cơ sở Bảo hiểm Y-tế thanh toán lệ phí điều trị.

Điểm khác biệt giữa Y-lý Á-đông (TCM) với y-học hiện đại (Schulmedizin) trong vấn đề sức khỏe của con người là Y-lý Á đông lấy việc nâng cao sức đề kháng của cơ thể (Chính khí), điều hòa các chức năng nội tạng (cân bằng Âm –Dương) trên cơ sở đó, tác động, tăng cường khả năng tự hồi phục của cơ thể, lấy việc Phòng bệnh làm vấn đền tiên quyết, chữa bệnh chỉ là thụ động, thứ yếu. Và trong việc trị bệnh cũng lấy Nội khí làm chủ, để điều hòa Khí-Huyết, đào thải tận góc rể- mầm móng bệnh tật, chứ không phải chỉ dập tắt triệu chứng như Tây-y.

Đại danh Y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác có viết. “Thánh nhân trị khi chưa có bệnh, không để bệnh phát ra rồi mới chữa, trị khi chưa có loạn, không để loạn rồi mới dẹp, phàm sau khi có bệnh rồi mới dùng thuốc , loạn đã thành mới dẹp, cũng ví như khát mới bắt đầu đào giếng, khi chiến đấu mới bắt đầu đúc binh khí thì chẵng muộn lắm ru…….Ngũ vị là Chua, Đắng, Ngọt ,Cay, Mặn. Lục-dục là sự ham muốn của Mắt,Tai, Mũi, Lưỡi, Thân thể, Ý nghĩ. Thất tình là bảy loại tình chí của con người đó là Mừng, Giận, Lo ,Nghĩ, Buồn, Sợ, Khủng khiếp. Trong thì làm thương tổn nội tạng, ngoài thì hại 9 khiếu (Miệng, 2 mắt, 2 tai, 2 lỗ mũi, tiền âm, hậu môn ) do đó mà sinh ra bệnh tật, cho nên Thái Thượng Lão Tổ dùng phương pháp luyện khí để chữa bệnh ở Tạng-phủ, phép lấy dùng cách thở ra để tiết khí độc ra ngoài, dùng cách thở vào để thu lấy tinh khí của trời đất bù vào, có thể sau một ngày đã thấy hiệu nghiệm nhỏ, sau một tuần đã thấy hiệu nghiệm lớn, sau một năm mọi bệnh tật đều hết, tuổi thọ tăng lên rất nhiều…(Quyển thượng-Vệ sinh yếu quyết-Hải Thượng Lãn Ông Y Tâm lĩnh)

Theo quan niệm của y lý cổ truyền, con người là một Vũ trụ thu nhỏ, bởi vậy vạn vật trong vũ trụ đều có khả năng hoạt hóa ảnh hưởng đến dòng sinh lực tồn tại của con người, và ngược lại dòng sinh hóa của con người cũng có thể thăng hoa để hóa nhập vào cội nguồn của thiên nhiên. Dựa vào nguyên lý đó các bậc Chân nhân, Đạo sĩ, các Danh y thời xưa ngoài việc  dùng cây cỏ, chim muông, và các vật thể hữu hình khác như đá, cuội, khoáng vật…để lấy những tinh chất đã hấp thụ Khí hóa khác nhau của thiên nhiên, sử dụng như những vị thuốc  làm tăng cường nội khí, điều hòa những rối loạn bệnh lý trong cơ thể con người, thì  họ còn biết sử dụng những năng lượng siêu nhiên, những vật chất vô hình để phục vụ cho việc bảo vệ sức khỏe và kéo dài tuổi thọ. Những năng lượng thiên nhiên thường được tận dụng nhất của người xưa là Trường sinh học của thuật Phong thủy, thủy nhiệt của các nguồn suối, ánh sáng có màu trong Quang đạo dẫn, đặc biệt dùng kỹ thuật Âm thanh để trị bệnh đã đạt đến trình độ tinh xảo vô cùng,   ví dụ như dùng chấn động của tiếng hét nội lực để đã thông kinh mạch trong môn Sư tử  hống của Thiếu lâm, dùng Âm thanh của nhạc cụ như chiêng, trống, mõ ..hoặc âm điệu của giọng nói để dẫn dắt con người vào những trạng thái tâm lý nhất định nhằm mục đích dẫn dụ, khai mở, thức tỉnh, khơi động những trung tâm năng lượng tiềm ẩn trong con người phục vụ cho vấn đề chẩn bệnh cũng như trị bệnh. Trong đó Lục Tự Khí Công là một phương pháp đặc thù đã vận dụng những chấn động vi tế của Âm thanh kết hợp với  hô hấp để tạo nên một phương pháp trị bệnh dưỡng sinh thần diệu.

Lục Tự Khí Công tạm dịch là môn công phu luyện khí theo 6 chữ, còn gọi là Lục Tự Quyết (Khẩu quyết 6 chữ). Tương truyền do Thái Thượng Lão Tổ một Đạo nhân tu Tiên thời thượng cổ Trung hoa sáng lập.

Lục-tự-khí-công của Thái thượng lão tổ ban đầu gồm có 7 chữ, 1 chữ thở vào và 6 chữ thở ra, do  trong  trường hợp luyện tập nào cũng chỉ sử dụng một chữ thở vào là chữ: “Hấp“  còn kỹ thuật luyện tập thay đổi là phụ thuộc vào sự tiết Tự của 6 chữ thở ra cho nên vẫn gọi là Lục-tự-khí-công.

Sáu chữ thở ra được phân biệt theo tính chất trường độ của hơi thở, và được phân loại như sau:

1-    Chữ HA là hà hơi ra

2-    Chữ HƯ là thở phào ra

3-    Chữ XU là thở ngắn

4-    Chữ HU là thổi ra từ từ

5-    Chữ XUY là thở dài ra

6-    Chữ HY là thở rền rả điều hòa

Lục tự khí công đang lưu hành hiện nay là do Đạo trưởng Xích-Tùng-Tử tu luyện phép trường sinh ở núi Hoa-sơn nghiên cứu, ứng dụng và truyền bá cho đời sau. Lấy 6 chữ của Thái Thượng làm cơ sở , Xích Tùng-Tử không những chỉ dựa vào tính chất trường độ của từng tự quyết, mà còn phân biệt Âm sắc, động thái của từng Chữ  ứng với các  khí hoá ngũ hành của Vũ trụ, và qui nạp vào tính chất hành khí của từng kinh mạch, huyệt vị hoặc từng tạng phủ trong cơ thể. Mỗi Tự quyết đặc trưng cho một hình thái năng lượng khác nhau, có sức chấn động, tương tác khác nhau, nhưng lại có tính thâu nhiếp, tàng trữ, hỗ trợ, phát tán hoặc khống chế lẫn nhau như trong một thể thống nhất mà triết học Á đông gọi là Tương-Sinh (Cái này tạo ra cái kia) hoặc là Tương-Khắc (Cái này khống chế cái kia).Thông qua việc rèn luyện, ứng dụng Lục tự quyết vào việc phòng bệnh và trị bệnh, Đạo trưởng Xích-Tùng Tử đã lập nên một Y-phái đặc  biệt, và đúc kết những tinh hoa kinh nghiệm vào cuốn : “Lục Tự Bệnh Lý Kỳ Thư“  (Thanh-Long Y phái ở Huế  có giữ một cuốn viết tay bằng bằng chữ Nôm), Sách có những  lý luận vi diệu về triệu chứng lâm sàng cũng như cách phòng, chống bệnh tật, được các Danh y ngày xưa xem như cẩm nang hành nghề.  Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, Lục-tự-quyết  không có gì thay đổi về căn bản kỹ thuật, chỉ về việc trào lưu phát triển , Lục tự quyết có nhiều lúc chìm lắng trong dân gian, ẩn tích vào thâm sơn cùng cốc cùng với các đạo sĩ của Đạo giáo, nhường lại cho những trào lưu dưỡng sinh rầm rộ khác, như dịch cân kinh, Bát đoạn cẩm của Thiếu lâm tự, Thái cực quyền của Võ đang, Ngũ hành hình ý quyền, Ngũ linh quyền, Thập nhị khí công, Du-già( Yoga)  hoặc các môn khí công Nội gia của các Võ phái lừng danh khác.
Sở dĩ Lục tự quyết không phát đại quang dương ồn ào náo nhiệt như các môn dưỡng sinh khác là vì Lục tự quyết chỉ đơn thuần là một môn dưỡng sinh,  không có các động tác oai phong, uy dũng, bay bướm như võ học, và mục đích rèn luyện cũng không phải để đạt đến những khả năng siêu phàm, mặt khác những lý luận  trong Lục tự quyết cũng không phải là những lý  luận triết học thâm sâu có sức quyến rũ, lý giải về nhân sinh quan và thế giới quan như các môn Dưỡng sinh khác, mà luyện tập chỉ để Nâng cao chính khí-Điều hòa cơ thể-Phòng chống bệnh tật- kéo dài tuổi thọ  .Chính vì vậy mà Lục Tự Quyết trong một khoảng thời gian dài của lịch sử chỉ được tồn tại và coi trọng trong các Gia-Y như một phương pháp  đặc biệt  để  nâng cao  Y-Lực trong nghề. Trong thời đương đại, bởi nhịp điệu cuộc sống quá hối hả, ráo riết, thời gian sử dụng  quá nhiều cho những nhu cầu của đời sống hiện đại ,vì vậy người ta chỉ muốn tìm đến những gì đơn giản, tiện lợi và dễ thực hiện nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả cao. Lục tự khí công đáp ứng được những nhu cầu đó,cho nên đã được tìm tòi nghiên cứu và dần dần được phổ biến rộng rãi như một phương pháp phòng bệnh ưu việt.
Hết chương I

Lục Tự khí công ( Chương II )

thuannghia | 30 June, 2008 20:28

CHƯƠNG II

CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LỤC TỰ KHÍ CÔNG

A)  Hình thái của Lục tư quyết:

Tự quyết bao gồm có 6 CHỮ  hay nói cách khác có 6 Âm tiết khác nhau:

1- Chữ   HƯ

Như tiếng gầm gừ trong cổ họng phát ra, không phụ thuộc vào môi và lưỡi, gần giống như âm Hứ“ trong phản xạ tự nhiên của trạng thái tinh thần giận dữ, thách thức, bực bội, hoặc bị kẻ thua mình dọa dẫm, coi thường, hay lúc muốn trấn áp người khác mà không muốn nhiều lời,thường liên quan đến tính tự ái, lòng  tự trọng và sự uất hận

2- Chữ   HA

Như thể hà hơi ra, miệng há ra tự nhiên,lưỡi đè xuống hàm dưới, như thể hiện của âm thanh tự phát trước một sự nhận biết bất ngờ,âm thanh phát ra tương tự như một câu hỏi đã được khẳng định “ Há ? “  hoặc như tiếng cười thoải mái tự nhiên  “ hà..hà“ Âm thanh tự phát này liên quan đến trạng thái thỏa mãn hài lòng

3- Chữ   HÔ

Miệng hơi hé mở, môi chu lại như vòng tròn, hơi từ trong thoát ra qua vành môi để tạo nên âm thanh. Tương tự như tiếng cười nhạo báng “ hô …hô..hô..“ thể hiện sự hiểu, cái đúng của suy nghĩ trước sự nhầm lẫn về kiến thức của người khác. Hay là biểu hiện kết quả toại nguyện của sự tính toán lo toan,suy nghĩ.

4- Chữ   HI

Miệng bành ngang ra, răng  khép hờ, lưỡi hơi cong , đầu lưỡi tỳ xuống chân răng của hàm dưới. Gần như tiếng khóc của người lớn  “ hí..hí..hí..“ thể hiện sự buồn đau mất mát

5- Chữ   SUY

Môi chu lại rồi kéo bành ngang ra đồng thời hơi từ trong phát ra  ngoài qua vòm lưỡi hơi cong lên.Tương tự như âm  “ xùy..“ của  một người muốn ngăn chặn người khác đừng ồn ào, quấy rối để chú ý theo dõi, cảnh giác trước một vấn đề gì rất đáng quan  tâm hoặc lo ngại

6- Chữ    HU

Miệng gần giống như phát chữ Hô, nhưng môi chu lại nhỏ hơn chỉ chừa lại một lỗ nhỏ, hơi được thổi mạnh ra đó tạo thành âm thanh  như gió thổi. tương tự như tiếng hú kéo dài của người đi rừng muốn thông báo, kêu gọi, cảnh báo cho người khác đang ở cách xa mình.

B) Luc tự quyết qui nạp với ngũ hành:

1) Khái niệm về Ngũ hành:

Ngũ-hành là 5 trạng thái cơ bản của vật chất theo quan điểm triết học Á-đông, được phân loại thành 5 trạng thái hành khí khác nhau, đặc trưng cho tính chất vận động của vạn vật. Ngũ hành là nền tảng cơ sở để hình thành các nguyên lý của Lục tự khí công

  1. 1.     Phân loại ngũ hành:

Hành  MỘC  có thể hiểu nôm na là có tính chất như  Gỗ, Cây cỏ

Hành HOẢ  ———————————————– Lửa

Hành THỔ  ————————————————Đất, Đá

Hành KIM   ————————————————Kim loại

Hành THỦY ————————————————Nước

  1. 2.     Ngũ hành qui nạp vào thiên nhiên
Ngũ hành Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy
Mùa Xuân Hạ Trường hạ Thu Đông
Phương hướng Đông Nam Trung ương Tây Bắc
  1. 3.     Các qui luật của ngũ hành:

Ngũ hành có mối quan hệ rất  mật thiết với nhau, tương tác, hỗ trợ, chế ngự lẫn nhau thông qua những qui luật nhất định:

+   Qui luật tương sinh

Là hành khí này có thể phát sinh ra hành khí kia, cũng có hàm nghĩa là nuôi dưỡng, hỗ trợ giúp đỡ nhau để sinh trưởng và phát triển. Hành khí có khả năng sinh ra hành khác được gọi là Hành Mẹ (Mẫu), hành khí được sinh ra gọi là Hành Con (Tử).Mối quan hệ ngũ hành tương sinh vì vậy còn được gọi là  mối quan hệ Mẫu-Tử:

–         Hành Mộc sinh ra Hành Hỏa: Ví dụ như Gỗ đốt cháy thành Lửa

–         Hành Hỏa sinh ra Hành Thổ :Ví dụ như vạn vật bị cháy đều trở thành tro đất

–         Hành Thổ sinh ra Hành  Kim: Ví dụ như Kim loại có từ đất, đá quặng mà ra

–         Hành Kim sinh ra Hành  Thủy: Ví dụ như Sương lạnh có trên kim loại

–         Hành Thuỷ sinh ra Hành Mộc :Ví dụ như Cây cối nhờ có nước mà trưởng thành

(Mộc—->Hỏa——>Thổ—–>Kim—->Thủy—->Mộc…..)

(Mối quan hệ Mẫu- Tử trong ngũ hành khi được qui nạp vào Cơ thể con người theo cấu tạo của nội tạng và cấu trúc của kinh mạch huyệt vị, đóng một vai trò hết sức quan trọng, nó là nguyên tắc cơ bản của thủ pháp Bổ-Tả trong trị liệu Đông-Y. Cụm từ “Hư thì Bổ Mẫu, Thực thì Tả Tử“ có hàm nghĩa là cơ quan nội tạng nào bị suy thoái chức năng thì bồi bổ ở cơ quan Mẹ, cơ quan nào khí huyết ứ trệ, quá tải thì phải tiết tả ở cơ quan Con . Khái niệm Mẹ, Con là được hiểu theo ý nghĩa Mẫu-Tử ở trên. )

+   Qui luật tương khắc: 

Có nghĩa là khống chế, ngăn cản, kìm hãm lẫn nhau để giảm bớt sự phát triển bừa bãi. Mối quan hệ tương khắc trong ngũ hành được xem là mối quan hệ Được-Thua:Nó thắng ta hay là ta thắng nó, thể hiện ở đặc tính, cái này có khả năng ngăn cản, kìm chế, thậm chí còn sát phạt cái kia:

–         Hành Mộc  > Khắc chế < Hành Thổ_____Ví như Cây cỏ lấy hết dinh dưởng làm cho đất khô cằn

–         Hành Thổ   > Khắc chế <  Hành Thủy____Ví như đất đá núi, đồi ngăn cản dòng chuyển lưu của nước

–         Hành Thủy > Khắc chế <  Hành Hỏa_____Ví như nước dập tắt được lửa

–         Hành Hỏa  > Khắc chế <  Hành Kim______Ví như lửa nung cho kim loại chảy ra

–         Hành Kim  > Khắc chế <  Hành Mộc___Ví như dao búa có thể chặt vụn cây cối….

Qui luật tương sinh và qui luật tương khắc là hai điều kiện không thể thiếu được để duy trì sự thăng bằng tương đối của vạn vật.Trong tương sinh có tương khắc, trong tương khắc có tương sinh, đó là qui luật chung về sự vận động biến hóa của tự nhiên, nếu chỉ có tương sinh mà không có tương khắc thì không thể giữ được thăng bằng sự phát triển bình thường của sự vật. Nếu chỉ có tương khắc mà không có tương sinh thì vạn vật không thể sinh trưởng được.Trong Sinh hóa có Ức chế, trong Ức chế có Sinh hóa đó là điều kiện tất yếu cho sự tồn tại của vạn vật.

Ngoài hai qui luật cơ bản đó, mối quan hệ của ngũ hành còn tuân theo một vài qui luật phụ khác ví dụ như Ngũ hành tương thừa và Ngũ hành tương vũ

Tương thừa có hàm nghĩa là thừa thế thắng để lấn tới trấn áp cái kém mình, ví dụ như bình thường thì Thổ chế ngự Thủy, không cho Thủy phát sinh một cách tùy tiện, nhưng khi Thổ quá dư thừa thì không phải là sự khống chế hữu ích nữa, mà sinh ra sát phạt, hình hại Thủy làm cho Thủy suy yếu, dẩn đến mất cân bằng của sự phát triển.( “Cương tắc hại“ mạnh quá thì hình hại)

Tương vũ có hàm nghĩa khi có thế thắng thì lấn lướt cái đáng ra khống chế mình, ví dụ lúc bình thường thì Thủy khắc chế Hỏa, nhưng có khi vì Hỏa quá mạnh, Thủy không thể nào khống chế được làm hao tổn tiềm lực của chính mình dẫn đến bị suy yếu, cho nên coi như ngược lại Hỏa lại khắc hại Thủy ( “ Thừa tắc nãi chế“ :Thừa thãi thì khống chế lại )

Qui luật Tương thừa và tương vũ là hiện tượng khác thường (phản thường) của qui luật Ngũ hành tương sinh, ngũ hành tương khắc (chính thường).Tuy rằng là phản thường nhưng lại có tính tất yếu trong chuỗi vận động của vật chất.

2) Lục tự qui nạp vào ngũ hành.

Qui nạp lục tự vào ngũ hành là xác định tính chất chấn động của từng tự quyết một cách cụ thể thông qua những đặc điểm tương ứng của từng loại ngũ hành, cũng như các qui luật vận động của nó

Chữ HƯ—————-ứng với hành————– MỘC

Chữ HA—————-ứng với hành—————HỎA

Chữ HÔ—————-ứng với hành—————THỔ

Chữ HI—————–ứng với hành—————KIM

Chữ SUY————–ứng với hành—————THỦY

Chữ HU —————ứng với hành—————-HỎA

3) Lục tự tương sinh

Khi đã được qui nạp vào ngũ hành, thì tất cả các Tự quyết đều phải tuân theo các qui luật vận động của ngũ hành,

CHỮ KHỞI ĐẦU

VÒNG LỤC TỰ TƯƠNG SINH

THỨ TỰ CỦA VÒNG

Nhật khởi- Đông khai

HƯ—HA—HÔ—HI—SUY—HU

HA

Chính Dương vi quân

HA—HÔ—HI—SUY—HU—HƯ

Ngũ trung đại hóa

HÔ—HI—SUY—HU—HƯ—HA

HI

Tây kết vi thần

HI—SUY—HU—HƯ—HA—HÔ

SUY

Vọng nguyệt tàng nguyên SUY—HU—HƯ—HA—HÔ—HI

HU

Tàng dương tá sứ

HU—HƯ—HA—HÔ—HI—SUY

Trong 6 vòng Lục tự tương sinh thường được sử dụng nhiều nhất là vòng  Nhật khởi đông khai ( chữ HƯ đứng đầu) kế đến là vòng Vọng nguyệt khai nguyên (chữ SUY đứng đầu) sau là tới vòng Ngũ trung đại hóa (chữ HÔ đứng đầu),còn các vòng còn lại rất ít khi sử dụng đến

3-Lục tự quyết qui nạp với cơ thể con người

Tự quyết HA HI SUY HU
Tạng Gan Tim Lá lách Phổi Thận Màng tim
Phủ Túi mật Ruột non Dạ dày Ruột già Bọng đái Tam tiêu
Ngoại quan Mắt Lưỡi Miệng Mũi Tai Lưỡi
Thể chất Gân Mạch Thịt, cơ Da Xương Mạch
Thể trạng Huyết Thần Tinh Tân dịch Khí Sắc
Tình chí Giận Mừng Lo, nghĩ Buồn Khiếp, sợ Vui vẻ
Chức năng Phát sinh Phát triển Chuyển hóa Thu nhiếp Tang trữ Phát triển

4-Lục tự quyết qui nạp với thời gian:

Lục tự ứng với 4 mùa:

Chữ ỨNG VỚI MÙA
Mùa Xuân
HA Mùa Hè
Thời gian giao giữa mùa Hè và Thu
HI Mùa Thu
SUY Mùa Đông
HU Mùa Hè

Lục tự ứng với thời gian trong ngày:

Chữ ỨNG VỚI THỜI GIAN
từ 4  đến 8  giờ sáng
HU từ 8  đến 10 giờ trưa
HA từ 10 đến 13 giờ chiều
từ 13 đến 15 giờ chiều
HI từ 15 đến 20 giờ tối
SUY từ 20 giờ đêm cho đến 4 giờ sáng hôm sau

5-Nguyên tắc thu nhiếp Lục tự quyết:

Bí quyết của Lục tự khí công là phương pháp thở : hít vào bằng mũi thở ra bằng miệng, khi thở ra kết hợp với niệm tự quyết, lời quyết không phát ra thành tiếng chỉ tồn tại trong tư tưởng.

Đây là một loại Tĩnh công, mà công pháp không cần bất cứ một động tác, chiêu thức, cử động nào của cơ thể. Cách thở cực kỳ đơn giản, chỉ thở có hai thì: Hít vào-Thở ra không nín hơi.  Tuy đơn giản như vậy nhưng sự kết hợp đặc biệt giữa hô hấp và việc tiết  mỗi nhiếp Tự quyết có thể tạo ra những xung lực có hiệu ứng khai mở và thanh tẩy hết sức kỳ diệu . Mỗi Âm tự đều tàng ẩn trường độ, cường độ, tần số cũng như những âm hưởng đặc thù có rung động nội lực khác biệt để kích thích, điều chỉnh những rối loạn bệnh lý của từng cơ quan nội tạng khác nhau. Mặt khác việc luôn luôn sử dụng một chuỗi Lục tự tương sinh hoàn chỉnh có tác dụng điều hoà nội khí, cân bằng âm-dương, nâng cao chính khí tổng thể thúc đẩy khả năng tự phục hồi và bảo toàn chức năng  hoạt động của toàn bộ cơ thể.

 

Lục Tự khí công ( Chương III)

thuannghia | 30 June, 2008 20:30

CHƯƠNG 3     PHƯƠNG PHÁP LUYỆN TẬP LỤC TỰ KHÍ CÔNG

1-Chuẩn bị:

–         Tắm gội sạch sẽ, quần áo nới lỏng, rộng rãi, thoải mái – “ngoại khiết” 

–         Chọn nơi yên tĩnh, thoáng mát, không có sự quấy nhiễu ( tránh trường hợp vừa luyện tập vừa mở Truyền hình ) “ tịnh viên”

–         Ngồi xếp bằng thoải mái , hoặc ngồi trên ghế thả lỏng hai chân chạm đất- “nhu tọa”

–         Hai tay để lên đùi một cách tự nhiên “thủ-túc giao hòa”

–         Eo lưng hơi thót lại, hai vai buông lỏng – “ yêu bối hướng tâm, kiên ngung hướng hạ” 

–         Cằm hơi thu vào, để từ gáy xuống thắt lưng tạo thành một đường thẳng – “hậu thân trực chỉ” 

–         Hai mắt khép hờ, nhẹ nhàng vô tư lự ( “Lãn miêu mục thị” : như mắt con mèo lười ngái ngủ)

2-Thực hành:

a) phương pháp thở và kỹ thuật tiết-nhiếp Tự quyết:

–         -Hít vào bằng mũi, hít xuống bụng dưới, bụng hơi phình ra. Chỉ cần trong ý niệm biết rằng ta đang hít vào một luồng không khí trong sạch, từ đỉnh đầu đi xuống bụng dưới, không cần quan tâm khí đi như thế nào và cũng không cần thiết cố hít vào thật sâu

–         Thở ra bằng miệng, khi thở ra kèm theo việc trong ý nghĩ phát ra tự quyết, ở mỗi hơi thở, tự quyết chỉ phát ra một lần và ngân vang cho đến cuối hơi thở. Trong khi thở ra môi và lưỡi đặt ở vị trí thích hợp để phát ra ÂM QUYẾT đã chọn.

Đặc biệt lưu ý Chỉ phát ra tự quyết bằng ý niệm mà không phát ra thành tiếng, sự rung động như có thể nghe được rõ ràng nhưng chỉ trong tâm thức chứ không phát ra âm thanh thực sự

–         Đến cuối hơi thở miệng ngậm lại, đầu lưỡi chạm nướu răng trên và tiếp tục hít xuống bụng dưới để bắt đầu một chu kỳ thở tiếp theo.

–         Hơi thở này tiếp theo hơi thở kia liên tục, khoan thai, nhịp nhàng, đều đặn. Không thô, không ngắt quãng, không gấp gáp, không dồn dập.
b)Thực hành Lục tự tương sinh:

Luyện tập Lục tự quyết là luyện tập theo một vòng Lục tự tương sinh hoàn chỉnh chứ không phải luyện tập từng Tự quyết riêng biệt, mổi Tự quyết được lặp đi lặp lại theo một lượng số có hạn định, rồi Tự quyết này nối tiếp Tự quyết kia theo qui luật của Lục tự tương sinh, hết một vòng Lục tự tương sinh là kết thúc phần thực hành tự quyết

Có hai cách luyện tập Lục tự quyết:  Luyện tập dưỡng sinh, nâng cao chính khí và luyện tập để trị bệnh. Mỗi một cách luyện tập chỉ khác nhau về số lần tiết tự và thời điểm luyện tập mà thôi chứ về kỹ thuật không có gì thay đổi                  

* Luyện tập dưỡng sinh: Tùy thuộc vào thời gian trong ngày, ta chọn thời điểm luyện tập vào lúc nào thì có vòng Lục tự tương sinh tương ứng với thời điểm đó. Có 3 thời điểm trong ngày luyện tập có hiệu quả nhất

° Từ 5 đến 9 giờ sáng chọn vòng Lục tự tương sinh  Nhật khởi- Đông khai  tức là vòng tương sinh có Chữ HƯ đứng đầu (HƯ-HA-HÔ-HI-SUY-HU) để luyện tập.

Sau khi đã chuẩn bị tư thế tập luyện như đã trình bày trên bắt  đầu quá trình hô hấp tiết tự: Hít vào từ từ bằng mũi, nhưng lại tưởng tượng như có một luồng thanh khí đi vào đỉnh đầu và hướng xuống bụng dưới đồng thời lúc đó bụng hơi phình ra, hơi thở vào vừa đủ thoải mái ( không cần thiết hít vào thật sâu) tiếp nối ngay lúc đó, bụng từ từ thót lại bắt đầu kỳ thở ra, miệng mở nhẹ như chuẩn bị phát âm chữ HƯ (xem phần hình thái của tự quyết) theo với luồng hơi như thể được ép ra từ bụng dưới ra ngoài là âm tự HƯ được sự chỉ đạo của tâm tưởng phát ra và ngân dài cho đến tận cuối hơi, âm tự được phát ra thực sự với mọi nguyên lý, cấu trúc hoàn chỉnh của sự phát âm, nhưng lại không thành tiếng hay nói một cách khác dễ hiểu hơn là người luyện tập nghe được trong tâm trí của mình rõ ràng âm tự phát ra, nhưng người ngồi bên cạnh không nghe rõ. Khi hơi thở ra vừa hết cũng không cần phải cố xả thật hết hơi, thì lại tiếp tục hít vào để tiếp tục chu kỳ tiết tự mới. Cùng với hơi thở ra mỗi tự quyết được thực hiện 21 lần, lần lượt từ Tự quyết HƯ 21 lần rồi đến Tự quyết HA 21 lần cho đến Tự quyết HU thì kết thúc một buổi tập.Tổng cộng tất  cả là 126 hơi thở tiết tự. Phân tích cả quá  trình thì có vẻ là khó thực hiện, nhưng khi đã nắm vững  Nguyên lý việc tập luyện rất đơn giản. Ví dụ khi hít vào, chỉ cần bụng hơi phình ra miệng ngậm lại là bắt buộc hơi phải theo mũi để vào, lúc đó chỉ cần đưa sự chú ý lên đỉnh đầu thì tự nhiên cảm giác như thể có luồng hơi chạy vào đỉnh đầu, hít vào phình bụng ra, khi đủ hơi  theo phản xạ lúc xả hơi ra tự nhiên bụng lại tự động thóp vào, chỉ cần đưa sự chú ý của tư tưởng vào âm tự nơi vòm miệng là đã thực hiện được sự tiết tự như ý muốn.

° Từ 13 cho đến 15 giờ chiều thì chọn vòng Lục tự tương sinh Ngũ Trung Đại Hóa, tức là vòng tương sinh có chữ HÔ khởi đầu:  (HÔ-HI-SUY-HU-HƯ-HA) lần lượt luyện tập như đã trình bày trên

° Từ  20 giờ tối cho đến quá nửa đêm chọn vòng Vọng Nguyệt Tàng Nguyên tức là vòng tương sinh có chữ SUY khởi đầu để tập luyện  (SUY-HU-HƯ-HA-HÔ-HI)

Tại sao ở 3 thời điểm trên, luyện tập Lục tự khí công lại có hiệu quả  hơn các thời điểm khác? và tại sao ở mỗi thời điểm lại phải sử dụng mỗi vòng Lục tự khác nhau? Nếu nắm vững các qui luật vận hóa của ngũ hành, ứng với qui luật vận động của Vũ trụ cũng như qui nạp vào cơ thể  con người như đã trình bày ở phần Các nguyên tắc cơ bản của Lục tự khí công thì câu hỏi đó rất dễ giải thích.

Ở mỗi vòng lục tự tương sinh, chữ khởi đầu đóng vai trò rất quan trọng nó quyết định toàn bộ tính chất chấn động, và khả năng hành hóa cho cả vòng, chữ khởi đầu mang Hành gì, thì cả vòng tương sinh đều mang tính chất của hành đó.

Ví dụ chữ HƯ mang hành Mộc, thì vòng Lục tự “ Nhật khởi-Đông khai” có chữ HƯ khởi đầu cũng mang Hành Mộc, tương tự ở các vòng Lục tự khác cũng vậy. Ngoài ra mỗi vòng Lục tự mang một ý nghĩa tượng trưng cho khả năng tác động của nó vào quá trình hoạt động, sinh trưởng và tồn tại của con người. Ví dụ: -Vòng Nhật khởi-Đông khai mang hành Mộc vì chữ khởi đầu là chữ HƯ ( hành Mộc). Đối với thiên nhiên cũng như cơ thể con người hành Mộc ứng với sự khai mở, phát sinh cho một chu kỳ vận hóa (Phát triển và tồn tại). Hành Mộc tương ứng với phương Đông , tương ứng với với giờ Dần, giờ Mão :từ 3 đến 5, từ 5 đến 7 giờ  (xem kỹ phần Lục tự qui nạp với ngũ hành) .Vòng lục tự có tên là Nhật khởi  ( mặt trời mọc) –  Đông khai ( mở ở hướng Đông) ngoài ý nghĩa là hành Mộc ứng với phương Đông, vào lúc mặt trời mọc, hai chữ “khởi”: là bắt đầu và chữ “khai”: là khai mở còn, có ý nghĩa nói đến khả năng khai mở, nói đến năng lượng chấn động thúc đẩy cho một vòng sinh hóa khởi động.

Tương tự  như vậy, vòng Lục tự Ngũ trung đại hóa có chữ HÔ đứng đầu, chữ HÔ thuộc hành Thổ, cho nên cả vòng Lục tự này đều là hành Thổ. Hành Thổ đối với quá trình sinh hóa của cơ thể là biểu tượng cho sự phát tán, hoạt hóa của năng lượng vật chất được hấp thụ qua đường tiêu hóa (khí hậu thiên),  năng lượng vật chất này theo Đông y là bao gồm Khí, Huyết,và Tân dịch, hai chữ Đại hóa của vòng Lục tự tương sinh này bao hàm ý nghĩa là Hành khí, Hoạt huyết, và dưỡng tân, nói tóm lại sự chấn động của vòng Lục tự này là giúp cho khí, huyết được lưu thông mạnh mẽ khắp thân thể.

Còn vòng Lục tự Vọng nguyệt tàng nguyên dịch ra nghĩa đen là Nhìn trăng mà thu giữ lấy nguyên khí. Chỉ có ban đêm mới có trăng, ban đêm là giờ hợi giờ tý thuộc hành Thủy bởi vậy mới chọn vòng  lục tự tương sinh có hành thủy là chữ SUY khởi đầu là vậy và nó có tác dụng với  sự sinh hóa của cơ thể là hỗ trợ quá trình tàng trữ, tích lũy,  giữ gìn và bảo vệ nguyên khí.

Tóm lại chọn 3 vòng Lục tự tương  sinh này  sở dĩ có những đặc điểm đặc  thù  tương ứng với các thờiđiểm thích hợp trong ngày là vì 3 vòng Lục tự này mang 3 hành khí  Mộc, Thổ, Thủy là đại diện cho 3 giai đoạn quan trọng nhất của quá trình phát triển và tồn tại của khí hóa. (Qui luật phát triển tất yếu của vạn vật đều nhất định phải trải qua các giai đoạn: Phát sinh-Trưởng thành-Hành hóa-Thu nhiếp và Tàng trữ). Khí Mộc thịnh vượng nhất buổi tảng sáng,  có khả năng kích động sự phát sinh. Khí Thổ thịnh vượng nhất vào buổi xế trưa có khả năng kích hoạt sự phát tán, thăng hoa và lưu chuyển. Khí Thủy thịnh vượng nhất vào buổi  tối có khả năng thúc đẩy quá trình tích lũy, tàng trữ,  và bảo vệ. Ngoài những yếu tố cơ bản ấy, yếu tố tiện lợi cho sinh hoạt hàng ngày cũng được chú trọng, tảng sáng, xế trưa và chiều tối là những thời điểm thuận lợi để thực hành và luyện tập. Như đã nói trên đó là 3 thời điểm trong  ngày, tương ứng với 3 vòng lục tự tương sinh mà người luyện tập dưỡng sinh bình thường đạt được hiệu ứng khí hóa tối đa nhất.

Thực ra luyện tập bất kỳ một vòng Lục tự tương sinh nào,  và vào thời điểm nào củng đều có kết quả nâng cao chính khí, điều hòa khí huyết và củng cố thể trạng để bảo vệ sức khỏe cả. Tuy nhiên nếu có điều kiện thì luyện tập 3 lần trong 1 ngày với 3 vòng Lục tự đã chọn thì tốt nhất, còn không chỉ cần mỗi ngày một lần chuyên cần đều đặn đã đạt được những thành tựu mà không có một thứ thuốc bổ dưỡng nào sánh kịp. Ngoài ra muốn có hiệu quả tốt hơn cho việc phục hồi các chức năng bị rối loạn lệch lạc thì nên căn cứ vào tình trạng thể khí của cơ thể để lựa chọn vòng Lục tự thích hợp. Ví dụ: “..tình trạng khí huyết thiếu. Khả năng thu nạp dinh dưỡng kém, kèm theo những triệu chứng hay mệt mỏi, chán chường  ủ dột, u uất, thần sắc bạc nhược v..v,  đó là do nguyên nhân lệch lạc ở chỗ  phát động khởi đầu của dòng sinh khí, vì vậy nên chọn vòng Lục tự “Nhật khởi-Đông khai” mà luyện tập. Sinh khí đầy đủ, dinh dưỡng dư thừa, mà thần sắc không tươi nhuận, đau nhức  thường xuyên… là do rối loạn nơi chỗ hoạt hóa, vì vậy mà chọn vòng Lục tự “Ngũ trung đại hóa” mà dùng. Sinh khí hoạt hóa khắp châu thân, phát tán bộn bề nơi kinh mạch, sức khỏe như dư thùa  mà tâm thần vẫn hoảng hốt,  ăn nói cuồng ngôn bạo ngữ, ngang ngạnh, hiếu chiến, hỷ nộ thất thường, tham dâm, loạn dục ..v.v..là bởi lệch lạc nơi khâu tàng trữ, do khả năng thâu nhiếp giữ gìn lỏng lẻo nên để cho Chân khí không có chỗ nương tựa bám víu mà lồng lộn như ngựa điên, loạn lưu nơi kinh mạch, thất tán ra ngoài là vậy. Khi gặp tình trạng này nên chọn vòng “Vọng nguyệt tàng nguyên” chuyên cần mà luyện, năm bữa, bảy ngày tất khỏi.” (LụcTự Bệnh Lý Kỳ Thư) Kinh nghiệm người xưa ghi lại

“ Lưỡng thuận, đắc thời chi sở dụng,

Minh khai, đông khởi vị tòng sinh

Mãn ngọ tọa trung luân đại hóa

Nhập dạ tàng nguyên, thâu,nhiếp,bình…”

(Sách Lục tự kỳ môn dị pháp)

Dịch nghĩa : Gặp thời điểm mà có hai có 2 cái thuận lợi thì nên dùng, như buổi hừng đông , một là khí Mộc thịnh vượng nhất, hai là lúc vừa ngủ dậy chuẩn bị cho một ngày mới thuận tiện cho việc rèn luyện thì dùng vòng Nhật khởi-Đông khai là vòng tòng sinh mà luyện. Quá trưa vừa phù hợp với giờ nghỉ trưa, khí thổ lại cường tráng , ngồi ở trung tâm mà luân chuyển vòng đại hóa (Ngũ trung đại hóa). Vào đêm khi thủy khí đầy tràn, lại vừa qua khỏi một ngày vận động, đến thời nghỉ ngơi là lúc rất phù hợp để tàng trữ nguyên khí, thu nhận tinh khí trở lại nơi tiên thiên, điều tiết quân bình khí huyết, đó là chức năng của vòng lục tự Vộng Nguyệt Tàng Nguyên

13  °Luyện tập để trị bệnh: 

Kỹ thuật luyện tập Lục tự khí công để trị bệnh về căn bản hoàn toàn giống như kỹ thuật luyện tập dưỡng sinh đã trình bày ở trên. Nhưng về tình tự  và số lần tiết tự có khác nhau.

–         Về thời gian luyện tập không nhất thiết phải lựa chọn thời gian thích hợp một cách kỹ càng như các Cổ thư chỉ dạy. Ví dụ bệnh ở tạng phủ nào thì phải lựa chọn thời gian tương ứng với tạng phủ ấy để luyện như bệnh về Phổi thì phải chọn giờ Thân, giờ Dậu, bệnh về Tim mạch thì chọn giờ Tỵ giờ Ngọ v..v…Thứ nhất là bởi việc chọn lựa thời gian phức tạp, không giản tiện như yêu cầu của phương pháp, thứ hai là hiệu quả không có gì khác biệt lớn vì năng lượng chấn động, kích thích chủ yếu phụ thuộc vào hình thể của Tự quyết. Về thời gian, nếu được chỉ tuân thủ theo 3 thời điểm trong ngày như đã trình bày ở phần Luyện tập dưỡng sinh (xin tham khảo phần Lục tự qui nạp vào thời gian)  –

–         Căn cứ vào bệnh tật  ở tạng phủ nào trong Nội tạng, bệnh có liên quan đến cơ quan bên ngoài nào, liên hệ đến chức năng nào thì chọn Tự quyết tương ứng theo nguyên tắc Lục tự qui nạp vào cơ thể con người như đã trình bày ở phần “ Các nguyên tắc cơ bản của Lục tự khí công” để đưa ra liệu trình luyện tập hợp lý (sẽ trình bày cụ thể ở phần Ứng dụng Lục tự quyết trị bệnh nan y)

–         Liệu trình luyện tập tiết tự để trị bệnh có 3 giai đoạn còn gọi là 3 vòng:

+   Vòng 1 :  gọi là vòng khai mở, vòng này bắt đầu từ Tự quyết đầu tiên cho đến tự quyết cuối cùng, lần lượt mỗi tự quyết chỉ thực hành có 6 lần tiết tự, tổng cộng tất cả có 6 lần 6 là 36 hơi thở .Vòng 1 người xưa gọi là vòng “Tiểu chu Thiên Địa”  Sách  Lục tự bệnh lý kỳ thư gọi là vòng “Thiên cang”, sách Lục tự kỳ môn dị pháp gọi là “Chu khởi”. Thanh-long y án khảo luận gọi là “Tam thập lục bảo khí” còn gọi là vòng “Bảo khí” .Tuy khác tên  gọi nhưng cùng chung một ý nghĩa, mục đích và liệu pháp. Sau khi vừa kết thúc vòng 1 thì tiếp tục ngay vòng 2 không để gián đoạn.

+   Vòng2 : gọi là vòng hành hóa, gọi là vòng chứ thực ra giai đoạn này chỉ thực hành tiết tự một Tự quyết liên quan đến cơ quan bị bệnh mà thôi.Và tự quyết này được thực hiện với 18 lần hơi thở liên tục, vòng 2 còn có tên gọi là “Trung chu Thiên địa”. Sách Lục tự bệnh lý kỳ thư gọi là vòng “Nhân hoá”. Thanh-long y án khảo luận gọi là “Thập bát La hán phục nguyên” còn gọi là vòng “Phục nguyên”. Sách  Lục  tự kỳ môn dị  pháp  gọi là “Hoạt chu”. Thực hiện xong vòng 2 tiếp tục thực hiện vòng 3

+   Vòng 3 : gọi là vòng hòa tiết, vòng này mỗi Tự quyết trong vòng Lục tự tương sinh được thực hiện 12 lần tiết tự. Tổng cộng là 12 lần 6  bằng 72 hơi thở. Vòng 3 người xưa gọi là vòng “Đại chu Thiên địa”. Sách Lục tự bệnh lý kỳ thư gọi là vòng “Địa tàng”. Sách Lục tự kỳ môn dị pháp gọi là “Hòa chu”. Thanh-longY án khảo luận gọi là “Thất thập nhị hòa công” còn gọi là vòng “Hòa công” Tổng cộng toàn bộ một liệu trình luyện tập trị bệnh là tiết nhiếp 126 Hơi thở (36+18+72=126, lưu ý luôn luôn nhớ kỹ phép số này).
Một vài ví dụ minh họa phương pháp luyện tập trị bệnh:

–         Bệnh về tai :   như ù tai (Tinitus), viêm tai giữa(Mitteohrenzündung), lãng tai v..v..So sánh với bảng Lục tự qui nạp vào cơ thể thì Tai ứng với Chữ SUY trong lục tự quyết, vì vậy chọn chữ SUY làm tâm điểm cho quá trình tập luyện. Khi đã biết chữ SUY là Tự quyết trung tâm thì  nên chọn vòng Lục tự tương sinh Vọng Nguyệt Tàng Nguyên để luyện là tốt nhất, vòng lục tự tương sinh này thời gian thích ứng cho thực hành là vào buổi tối như đã trình bày ở trên.

Quá trình thực hành tiết tự như sau:

  1. 1.     Buổi tối, sau khi tắm gội sạch sẽ, áo quần rộng rãi thoải mái, tìm nơi yên tĩnh, chọn tư thế ngồi thích hợp thả lỏng toàn thân, hai mắt nhắm hờ, cổ ngay, lưng thẳng. Hít vào từ từ bằng mũi, đồng thời bụng hơi phình ra, đặt sự chú ý lên đỉnh đầu để tạo cảm giác như có một luồng thanh khí đi vào từ đây chứ không phải đi vào bằng mũi, hơi vào vừa đủ, miệng chuẩn bị tư thế để phát âm chữ SUY, đồng thời ép bụng để tiết hơi ra miệng, tư tưởng và sự chú ý hoàn toàn tập trung vào chữ SUY, hơi thở được đẩy ra từ từ qua cấu trúc chữ SUY của vòm miệng ra ngoài, tư tưởng suy nghĩ đang phát ra chữ SUY nhưng chỉ tồn tại trong Tiềm thức, chứ âm hưởng không thực sự có thật. (Âm tự tồn tại và được phát ra trong tâm thức chính là ở dạng tàng ẩn bên trong, cho nên mang tải sức chấn động của Nội khí rất lớn).Tiếp tục hơi thở vào như trước, rồi lần lượt tiết tự chữ SUY theo nhịp thở như thường lệ, sau khi tiết tự chữ SUY đủ 6 lần thì tiếp nối hơi thở để tiết tự chữ HU. Thứ tự lần lượt chữ  SUY 6 lầnàHU 6 lầnà chữ HƯ 6 lần à chữ HA 6 lần à chữ HÔ 6 lần à chữ HI 6 lần . Đến đây là kết thúc vòng 1 tức là vòng khởi động, không được dừng lại làm gián đoạn nhịp thở mà phải liên tục tiếp nối nhịp thở tiết tự của vòng 2.
  2. 2.     Lại hít vào bằng mũi, tư tưởng tập trung lên đỉnh đầu…..Thở ra, kèm theo việc tiết tự chữ SUY, vì chữ SUY là chữ trung tâm đã chọn cho liệu pháp trị bệnh về Tai. Chữ SUY được thực hành tiết tự 18 lần liên tục, đến đây là kết thúc vòng 2 tức là vòng hoạt hóa, cũng có nghĩa là vòng chủ chốt để trị bệnh.
  3. Tiếp tục nhịp thở tiết tự của vòng 3, lại bắt đầu từ chữ SUY, nhưng mỗi tự quyết thực hiện đến 12 lần theo thứ tự sau: chữ SUY 12 lầnà chữ HU 12 lần à chữ HƯ 12 lần àchữ HA 12 lần à chữ HÔ 12 lần à HI 12 lần. Đến đây là kết thúc một buổi thực hành tiết tự.  Vì điều kiện thời gian bó buộc không thể luyện tập vào buổi tối để thực hành vòng lục tự tương sinh Vọng nguyệt tàng nguyên ( là vòng Tự quyết để trị bệnh về Tai thích hợp nhất), thì chọn thời gian khác, với vòng Lục tự khác vẫn đạt được hiệu quả tốt. Nếu thời gian luyện tập vào buổi sáng thì như đã trình bày ở trên, chọn vòng lục tự Nhật khởi-Đông khai và trình tự luyện tập như sau:Chữ HƯ 6 lầnàchữ HA 6 lầnàchữ HÔ 6 lầnàchữ HI 6 lầnàchữ SUY 6 lầnàchữ HU 6 lầnè chữ SUY 18 lần è chữ HƯ 12 lầnà chữ HA 12 lần à chữ HÔ 12 lần à chữ HI 12 lần à chữ SUY 12 lầnà chữ HU 12 lần. Nếu thời gian luyện tập vào xế trưa thì chọn vòng Ngũ trung đại hóa, trình tự luyện tập như sau:Chữ HÔ 6 lầnàchữ HI 6 lần à chữ SUY 6 lần à chữ HU 6 lần à chữ HƯ 6 lần à chữ HA 6 lầnè chữ SUY 18 lần è chữ HÔ 12 lần à chữ HI à 12 lần à chữ SUY 12 lần àchữ HU 12 lần à chữ HƯ 12 lần à chữ HA 12 lần .

Cách luyện tập từng Tự Quyền:

Mỗi tự quyền được phát thành hai thức, một thức Động (dương) và một thức Tĩnh (âm). Thức động phát trước kèm theo thanh âm của Tự Quyết phát ra ngoài nghe rõ. Thức tĩnh kèm thanh âm của Tự Quyết không phát rõ ra ngoài, mà chấn động trong nội tạng.

1) Phát Quyền Chữ Hư: (chấn động ở gan và mật, phục hồi chức năng Gan bị suy giảm (suy gan) giải độc ở Gan và Can kinh (nóng gan, nhiễm độc gan, máu mỡ,  viêm gan vi rút. Phục hồi và chữa các bệnh về mắt, vàng da, mẫn ngứa….)

– Thức động: hít vào, từ từ đứng thẳng người, hơi nhao về phía trước, bụng phình ra ở đan điền, hít vào từ từ cho đến khi hết hơi thở, đồng thời hai tay dang rộng ra hai bên, lòng bàn tay úp, cũng là lúc đan điền phình ra hết cở. Thở ra, từ từ dùn người xuống, hai tay đồng thời hạ xuống, môi hơi hở, hai hàm răng chạm nhau, đẩy hơi từ đan điền lên phát ra chử Hư rền rã trong vòm họng.
– Thức tĩnh: Hít vào, từ từ đứng dậy kéo hai tay úp vào hông, bụng phình ra hết cở. Thở ra, hay tay úp hờ kéo từ hông xuống đùi, người hai rùn xuống, ép hơi từ đan điền phát chữ Hư kéo dài ra trong vòm họng, không nghe tiếng phát âm.


2) Phát Quyền Chữ HA:

Hỏa Khí, Chấn động ở Tim mạch, thanh huyết, tả trọc, chữa các bệnh suy nhược thần kinh, đau đầu mất ngủ, hồi hộp…
Thức động: Hít vài, đứng thẳng người dậy hơi nhao người về phía trước, hay tay ngữa, cắt chéo trước mặt dang ra hai bên. Thở tra, kéo úp lòng bàn tay xuống, hơi giật về phía đằng sau hông, đồng thời ép hơi từ đan điền phát hắt ra  tiếng chữ HA ngắn gọn trong vòm họng.
Thức tĩnh: Hít vào, hai tay khoáng từ trong ra phía trước bụng, ngón đeo nhẫn và ngón út kéo úp vào lòng bàn tay, ngón giữa và ngón trỏ khép chìa thẳng ra như song chỉ, kéo ép hai tay vào lòng ngực ngang vú. Thở ra, từ từ lật úp tay xuống, toàn bộ tay thả lỏng ra thành chưởng đẩy xuống phía dưới, đồng thời thở hắt ra chữ Ha không thành tiếng, chỉ nghe như một tiếng “hà” rất nhẹ rất mỏng mênh vậy.

3)
Phát Quyền Chữ HÔ
Chấn  động ở tỳ vị, chữa các bệnh về rối loạn chức năng tiêu hóa, tả trược ở dạ dày và lá lách.
Thức động: Hít vào, hay tay thật lỏng lẻo, từ từ được khí lực nâng lên phía trước mặt, bàn tay rủ xuống lòng đất. Thở ra, từ từ rùn người xuống kéo hai bàn tay thuận chiều vào hướng mặt, phát ra chữ HÔ om om trong vòm họng, nghe tiếng.
Thức Tĩnh: Thở vào, từ lật hai bàn tay, lòng bàn tay hướng lên trên, hay bàn tay kéo khoành xuống hông, từ đứng thẳng người dậy hơi nhao về phía trước. Thở ra, hắt lòng tay ra phía sau, ép hơi đan điền phát chữ Hô không thành tiếng.

 

4) Phát Quyền Chữ HI:

Chấn động vùng Phổi và kinh Đại trường. Giải độc do hô hấp, nhiễm độc hóa chất.v..v
Chữ Hi lúc phát ra rền rã ngân dài trong cuống họng.


5) Phát Quyền Chữ SUY:
    Chấn động vùng Thận, bàng quang và bụng dưới, giải độc thận, thanh nhiệt, lợi tiểu, chữa các bệnh về nội tiết và bộ phận sinh dục.
Phát chữ SUY, uốn lưỡi lên trên vòm họng, lúc phát ra nghe như tiếng xùy đuổi gà, đuổi chim vậy



6) Phát Quyền Chữ HU:
     Chữ Hu thuộc về tam tiêu, chủ về đường thủy đạo trong cơ thể.
Riêng Tự Quyền Hu được thu phát ra bằng ba hơi thở, tượng trưng cho Tam Tiêu: thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu. Chữ Hu phát ra rền rã ngân vang như tiếng hú của gió vậy.

Luyện Lục Tự quyền có hai cách:
Cách thứ nhất: Phát quyền đơn, là cách mỗi một tự quyết chỉ phát một lần, lần lượt theo vòng ngũ hành tương sinh: Hư-Ha-Hô-Hi-Suy-Hu (mộc-hỏa-thổ-kim-thủy-hỏa). Khi phát đến chữ Hu thì bắt đầu phát luyện lại từ đầu (bắt đầu từ chữ Hư), cứ thế luyện thành nhiều vòng theo cấp số 3 vòng, 6 vòng, hay 9 vòng….
Cách thứ hai : Phát quyền bội, là cách mỗi tự quyền phát thành nhiều lần theo cấp số 3,6,9,12….hết tự quyền này rồi đến tự quyền khác theo ngũ hành tương sinh bắt đầu từ chữ HƯ (Nhật Khởi Đông Khai)
_____
Lưu Ý:

Với các bạn quan tâm!
Trước lúc đi vào từng phương pháp vận dụng Lục Tự quyền chữa từng bệnh cụ thể, các bạn cần phải hiểu và luyện được các tự quyền căn bản, sau đó mới có từng bài luyện cho từng bệnh cụ thể được.
Sau khi xem kỷ phần này, mời các bạn xem tiếp phần 2 gồm có:
1) Ứng dụng Lục Tự Quyền chữa các bệnh về mắt như Cận thị, viễn thị, loạn thị, lão thị, viêm hoàng điểm, đục thể tinh thủy..v….v…
2) Giải độc và phục hồi nội tạng sau Xạ liệu và Hóa liệu trong điều trị Ung thư bằng Lục Tự Quyền
3) Giải độc Gan, Thận chống nóng gan, hỏa vượng, máu mỡ, viêm gan, xơ cứng gan….bằng Lục Tự quyền
4) Phục hồi rối loạn nội tiết, rối loạn và suy giảm khả năng tình dục, hiếm muộn con cái bằng Lục Tự Quyền và dược thảo kết hợp

 Hết chương 3

HẮC HOÀNG KỲ PHƯƠNG- TOA THUỐC TRỊ UNG THƯ CÓ XUẤT XỨ TỪ TÂY TẠNG

Bạn nghĩ rằng hai bức ảnh trên là hai đoá hoa rực rỡ của thiên nhiên ư! Không! bạn đã nhầm. Hình 1 là bức ảnh chụp những sợi lông tơ ở vùng da nhờn trong các cơ quan nội tạng. Da nhờn là vùng da không có lớp da sừng bảo vệ. Ở đó chỉ có những tiết dịch bầy nhầy bao phủ, như ở trong lỗ mũi, trong cuống họng, thành đường ruột, trong lòng của dạ dày, trong các túi nang ở phổi, trong dạ con, buồng trứng, trong tuyến sữa, trong tiền liệt tuyến v..v…Những chỗ da nhờn thường hay bị viêm nhiễm, và tế bào ở những chỗ đó rất dễ bị rối loạn chức năng, đó là mầm mống của bệnh ung thư. Tỷ lệ xuất hiện các khối u ác tính ở vùng da nhờn chiếm 85 đến 90 % trong các ca mắc bệnh ung thư. Đường ruột, Dạ dày, Vú, Dạ con, Buồng trứng, Cổ tử cung, Tiền liệt tuyến, Chuỗi hạch, Phổi … là những nơi dễ rối loạn chức năng tế bào để tạo thành khối ung ác tính. Mà nguyên nhân chính là do sự viêm nhiễm thường xuyên.

Hình 2: là một khối ung thư đường ruột đang hình thành và cắm rễ

HẮC HOÀNG KỲ PHƯƠNG

Hắc Hoàng Kỳ Phương là toa thuốc có xuất xứ từ Tây tạng. Vào những năm cuối của Thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 Y học cổ truyền của Tây tạng (Tibet Medizin) du nhập vào các nước Châu Âu rất rầm rộ. Đặc biệt là phương pháp chữa trị ung thư bằng thảo dược. Rất nhiều ca bệnh Ung thư đã được phương pháp đơn giản này chữa trị. Truyền hình, báo chí và các tập san y tế đăng tải thường xuyên về vấn đề này. Và đến nay ngoài  Y học cổ truyền Trung hoa, đã được nền Y học hiện đại chấp nhận như một phương thức đặc biệt trong hệ thống Y khoa hiện hành, thì Y học Tây tạng cũng được song song tồn tại hợp pháp với những luật định y tế của Châu Âu. Riêng với nước Đức về các loại thuốc thảo dược có xuất xứ từ Trung hoa, Tây tạng nói riêng và từ nước ngoài nói chung thì không được các hệ thống bảo hiểm y tế thanh toán, đó là luật y tế rất đặc biệt của Đức, nhằm bảo vệ quyền lợi cho các nhà sản xuất thuốc hoá dược. Vì vậy các loại thuốc có nguồn gốc từ thảo dược, chỉ được sản xuất trong các Công ty thuốc phục vụ cho phương pháp trị bệnh tự nhiên. Các loại thuốc này lưu hành mặc dầu được phép sản xuất, nhưng không được các tổ chức bảo hiểm y tế thanh toán. Vì vậy dù có hiệu quả cao, nhưng cũng rất khó đến với người sử dụng. Chỉ khi bệnh nhân không còn hy vọng vào hiệu năng của Y học hiện đại nữa họ mới tìm đến bằng hầu bao của mình. Hắc Hoàng Kỳ Phương là toa thuốc cũng nằm trong tình trạng đó. Hiệu năng của nó có thể phòng ngừa được bệnh ung thư, đối với các khối u phát hiện sớm, không những ngăn chặn được sự phát triển, mà còn có thể co kết khối u nhỏ lại. Đặc biệt rất hữu hiệu cho việc phòng ngừa di căn sau các phương pháp trị liệu của Tây y. Nhưng nó cũng chỉ đến với bệnh nhân, khi họ không còn có thể bám víu vào Bệnh viện nhà nước được nữa.

Nội Dung Của Hắc Hoàng Kỳ Phương:

Hắc Hoàng Kỳ Phương là toa thuốc được thành lập chỉ từ 2 vị thuốc, đó là Củ Tam Thất có màu đen nhánh như sừng (hắc) và Củ Nghệ có màu vàng (hoàng) ( ngạn ngữ : Đen như củ tam thất, hoặc mặt vàng như nghệ): Toa thuốc có tác dụng tiêu ung chỉ huyết, thông trệ, trục ứ dùng để hoạt huyết, đả thông các khối ứ, bầm dập, khu trục ung thủng. Tỷ lệ phối toa nguyên thuỷ là 6 nghệ 4 tam thất, tuỳ chứng mà định liều dùng.

1) Tam Thất:

Cây tam thất còn có tên là Kim Bất Hoán, Nhân Sâm Tam Thất, Sâm Tam Thất, thuộc họ Ngũ Gia Bì, tên khoa học là Panax Noto Ginseng. Tam thất là củ rễ phơi khô của Cây Tam Thất, Là vị thuốc rất quí, vàng cũng không đổi được ( Kim Bất Hoán= Vàng không đổi). Tam thất có nhiều cách giải thích về tên gọi, Bản thảo cương mục ghi là cây có 3 lá bên trái và 4 lá bên phải ( tam= 3, thất= 7). Có sách lại cho rằng lá tam thất có từ 3 đến 7 chét. Nhưng có lẽ chính xác nhất là do đặc điểm thu lượm của vị thuốc này, Vì cây Tam thất từ khi gieo trồng cho đến khi ra hoa phải mất 3 năm mới ra hoa, và phải sau 7 năm mới thu lượm được

Tam thất vị ngọt hơi đắng, tính ôn vào hai kinh Can và Vị, đặc biệt có tính dẫn tốt vào các phủ Kỳ hằng như Dạ con, tuyến vú, Não bộ. Có tác dụng hành ứ, cầm máu, tiêu thủng dùng chữa thổ huyết, chảy máu cam, lỵ ra máu, ung thủng, bị đòn tổn thương v..v..

 Chiết xuất hoạt dược Arasapomin A và Arasapomin B từ Tam thất, có tác dụng hoạt huyết, tiêu ung, tan ứ rất tốt. Tam thất có xuất xứ từ Vân nam, Quảng tây, Tứ xuyên, Hồ bắc, Giang tây (Trung quốc). Vân nam là tỉnh trồng nhiều nhất, và tam thất Vân nam, được các Lương y coi là tốt nhất. Ở nước ta cũng có trồng nhưng rất ít, phân bố ở Mường khương, Bát xát, Phà lùng, Hà giang..

Cần lưu ý tránh nhầm lẫn với cây Thổ tam thất thuộc họ Cúc, trồng ở đồng bằng. Và cây Tam Thất Vũ Điệp là một loại cây không có củ khác.

2) Củ Nghê:

Nghệ còn có tên là Uất Kim, Khương hoàng, thuộc họ Gừng có tên khoa học là Curcuma, Nghệ được trồng khắp nơi ở nước ta, dùng làm gia vị và thuốc. Theo nghiên cứu mới nhất của Y học , chất màu curcumin, được chiết xuất từ nghệ(0,3), có khả năng thẩm thấu qua vách của tế bào, và có tác dụng phục hồi những rối loạn phân huỷ năng lượng của tế bào, nên có khả năng chống lại bệnh ung thư, và bệnh giảm chức năng miễn dịch (HIV)

Theo tài liệu cổ, nghệ có có vị cay và đắng, tính ôn vào hai kinh Can và Tỳ, nghệ có tác dụng phá ác huyết, huyết tích kim sang và sinh cơ(lên da), chỉ huyết ( Đàn bà có thai, và sau khi sinh mà không có nhiệt kết không nên dùng)

3) Cách dụng toa như sau:

a) Đối với bệnh ung thư đã qua điều trị, xạ liệu, hoá liệu, hay giải phẫu, để ngăn chặn di căn, thì dùng ngay sau khi đã thực hiện liệu pháp. Cách dùng như sau: 

  • Ngâm củ Tam thất vào nước cho mềm thái thật mỏng độ 12 gam ,thái nghệ tươi cũng từng lát mỏng độ 18 gam, để chung hai thứ đem chưng cách thuỷ, hay để vào bát hấp trên nồi cơm, khi chín đem ra ăn khi đang nóng trước bữa ăn độ 2 tiếng đồng hồ, có thể chiêu với nước cơm thì tốt hơn.
  • Ăn độ 21 ngày đến 1 tháng như vậy thì ngưng. Sau đó dùng toa tán bột cũng với tỷ lệ 4 phần Tam thất 6 phần Nghệ, ngày 1 lần, mỗi lần 7 gam chiêu với một muỗng cà phê dầu mè (vừng), mà nuốt.


b) Đối với bệnh ung thư giai đoạn 1, được phát hiện  sớm  thì thành phần có thay đổi 18 gam Tam thất và 18 gam Nghệ, cách dùng như trên. Kết  hợp với luyện tập  Tĩnh công ( Lục tự Quyết), thì cách này có tác dụng, ngăn chặn sự phát triển và co kết khối u rất tốt ( có nhiều trường hợp Ung thư vú, Ung thư dạ con đã dùng toa này mà không cần các phương pháp trị liệu khác, khối u không phát triển nữa, và co kết lại)

c) Toa này được thay đổi thành phần 3 tam thất 7 nghệ , tán thành bột, hai ngày uống một lần 5 gam với dầu vừng. Có tác dụng phòng ngừa ung thư đối với những đối tượng trong tình trạng nhạy cảm với Ung thư, như Phụ nữ nghỉ sinh con đã lâu, hoặc không sinh nở, đàn ông trên 45 tuổi, phụ nữ trên 40 tuổi, những người nghiện thuốc lá, bia rượu v..v,..

 (Hiện nay vì điều kiện phức tạp chúng tôi và một vài cơ sở y tế khác sử dụng toa này chỉ ở dạng tán bột, chứ không có dạng chưng hấp)

Hãng Dược Liệu Tự Nhiên Tisso có loại thuốc con nhộng cũng được bào chế từ công thức trên, giá thành đắt (40 euro/60 viên dùng cho 1 tháng), mà tác dụng không hiệu quả bằng toa tán bột, nhất là ở Việt nam thì toa này quá dễ và rất rẻ để sử dụng.

Một số thương hiệu thuốc có nguồn gốc từ toa thuốc trên đang thịnh hành trên thị trường châu Âu:

H1

H2

H3

H4

H5

 

Hình 1: Thuốc con nhộng có thành phần chủ yếu là Nghệ và Tam thất dùng để phòng ngừa di căn, ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 viên uống với dầu vừng( mỗi hộp 60 viên giá 29 Euro)

Hình 2:  Thuốc con nhộng có thành nghệ và một số dược thảo khác, cùng các nguyên tố vi lượng chữa bệnh tiểu đường, ngày uống 3 lần, mỗi lần 3 viên (mỗi hộp 270 viên/48 euro)

Hình 3: Thuốc con nhộng có thành phần từ nghệ và một loại thảo dược khác, tăng sức đề kháng, điều hoà cơ thể ( ngày 2 lần, mỗi lần 2 viên, mỗi hộp 120 viên /49 euro)

Hình 4 : thuốc con nhộng có Nghệ và một số dẫn dược khác tăng sức đề kháng, ngày 2 lần mỗi lần 1 viên (hộp 60 viên /38 euro)

Hình 5: Địa chỉ và số điện thoại đặt mua ( không nên- giá thành quá đắt)

Theo như tin nhận được sắp đến hãng Tisso lại tung ra thị trường một loại thuốc mới, mà họ tự hào sẽ là loại thuốc phòng ngừa Ung thư tốt nhất hiện nay. Thành phần bao gồm  Nghệ, Tam thất, Linh chi, Bạch thố thảo, và một loại dược thảo bí mật có xuất xứ từ Á đông.

Nghệ nhập từ Ấn độ, Tam thất từ Trung quốc, Linh chi từ Đại hàn, Bạch thố thảo từ Trung quốc, và dược thảo cuối cùng có thể đến từ Thái lan hoặc Việt nam. Theo dự đoán của cá nhân tôi dược thảo bí mật kia có lẽ là Trinh nữ hoàng cung.

__________________________________________________________
Biên soạn: Quảng Nhẫn Lê Thuận Nghĩa

Tài liệu tham khảo:

–         Những cây thuốc và vị thuốc Việt nam- Giáo sư Đỗ Tất Lợi

–         Tam thất một cây thuốc quí của Y học phương đông- tạp chí y học của Nga

–         Tibet Medizin – G. Fischer und E. Krug ( Y học Tây tạng)

–         Bí mật kỳ tuyệt của dược thảo Trung quốc( Geheime Künste Chinesische Heilkräuter) -Penelope Ody

–         Kỳ hoa dị thảo (Die Wundervoll  Heilpflanzen) Quảng Nhẫn Lê Thuận Nghĩa

–         Và một số tài liệu lưu hành nội bộ của Viện Nghiên Cứu Ứng Dụng Y học Cổ Truyền Trung Hoa

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Tag Cloud

%d bloggers like this: