Just another WordPress.com site

thuannghia | 23 June, 2008 02:47

” Biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng” – Binh pháp cổ. Chống lại Ung Thư là một trận đánh quyết tử, mà ta yếu địch mạnh. Ta ngoài sáng, địch trong tối. Ta bị động, địch chủ động. Trong một thế trận éo le như vậy, muốn có được chiến thắng chúng ta cần phải có một Đồng Minh vững chắc, tin cậy và nhiệt huyết. Đồng minh đó là Chính Bệnh nhân và Thầy thuốc. Lạc quan và tin tưởng là yếu tố quyết định cùa Bệnh Nhân, Sáng suốt, nhạy bén, và nhiệt tình đó là yếu tố quyết định của Thầy thuốc. Thiếu sự kết  hợp Đồng Minh đó, và thiếu các đều kiện quyết định của đối tác, thì cơ hội cho sự chiến thắng rất mỏng manh. Vì vậy mà bệnh nhân sau Hoá liệu và xạ liệu cần lưu ý : sự lạc quan, và tin tưởng của bệnh nhân là một yếu tố cực kỳ quan trọng, chính đó mới là yếu tố quyết định để chúng ta tạo thế cân bằng lực lượng, để cuộc chiến tránh được tổn thất và có cơ hội thành công nhiều hơn. Nếu các bạn chỉ tin tưởng vào các liệu pháp y tế, mà bỏ qua yếu tố Tâm trạng của bệnh nhân, là bạn đã phạm một sai lầm rất lớn trong cuộc chiến này, và xác suất thành công của cuộc chiến có một con số hết sức khiêm tốn. Và có thể nói đó là một cuộc chiến cầu may. Chính vì lý do đó mà việc giải thích cơ chế của Bệnh Ung thư cho bệnh nhân hiểu. và làm cho họ hiểu rằng không có một thầy thuốc nào Tài ba , không có một dược liệu nào, không một Y thuật nào có thể tốt hơn Cơ Thể của chính họ được.  Từ đó tạo cho họ một niềm tin vững vàng vào chính bản thân họ, để họ lạc quan với cuộc sống, đón nhận sự hỗ trợ từ các biện pháp y tế là việc làm có tính tiên quyết và quyết định cho cuộc chiến này. ( Bài phát biểu trong hội thảo về Các Phương Pháp Tự Nhiên Phục Hồi Sức Khoẻ Sau Xạ Liệu- Quảng Nhẫn Lê Thuận Nghĩa)

 Vài Lời Với Người Muốn Đọc Bài Này

Bạn có thể nói ” ..không cần dài dòng đâu, cứ đưa phương pháp cụ thể ra, nếu hợp lý, có sức thuyết phục thì chúng tôi ứng dụng thử”. Vâng! thật đơn giản, tôi sẽ viết ra ngay, chỉ cho bạn một phương pháp luyện tập, cho bạn một toa thuốc cổ truyền, hay một vài loại dược thảo bí truyền nào đó, đã được chúng tôi ứng dụng lâm sàng có hiệu quả. Nhưng thú thật là không có hiệu quả như mong muốn đâu. Qua sưu tầm và nghiên cứu, phân tích, ứng dụng lâm sàng các toa thuốc cổ truyền, cũng như các loại dược thảo điều trị ung thư, chúng tôi thấy, tác dụng của nó khác nhau trên các bệnh nhân khác nhau. Cùng một loại Ung thư, cùng một liệu trình Hoá trị giống nhau, nhưng khi vận dụng các phương pháp của chúng tôi, thì hiệu quả không giống nhau. Có người thì phục hồi nhanh chóng, tránh được di căn. Có người người thì sức khoẻ phục hồi chậm, nhưng tránh được di căn, cũng có người vừa phục hồi chậm, vừa không tránh được di căn. Việc đó cũng giải thích được vì sao các toa thuốc dân gian, chữa cùng một thứ bệnh, với người này thì có tác dụng, với người kia lại không. Theo tài liệu thống kê của chúng tôi thì kết quả Phục hồi nhanh, tránh được di căn hầu hết có ở những người lạc quan, tin tưởng và am hiểu về chứng bệnh, cũng như am hiểu về nguyên lý điều trị của chúng tôi. Và đặc biệt những người thực hiện liệu pháp của chúng tôi xen kẽ giữa các đợt hoá liệu, thì kết quả rất tốt. Nói tóm lại Bệnh nhân nào được trang bị trạng thái tâm lý tốt, trong đó bao gồm cả việc hiểu biết nguyên lý điều trị, thì xác suất  thành công được tăng lên gấp 50 đến 70 % . Qua con số đó để khẳng định rằng việc phục hồi sức khoẻ sau Hoá liệu nói riêng, cũng như phòng chống Ung thư nói chung, lấy việc xây dựng một trạng thái tâm lý tốt cho bệnh nhân làm nền tảng cơ bản cho nguyên lý của Phương Toa.
Vì vậy trước khi ứng dụng trị liệu, cho phép tôi được trình bày các cơ sở lý luận thành lập nên phương toa, để hình thành một niềm tin có căn cứ cho các bạn.

                  NGŨ LỘ Y ĐẠO VỚI ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

Bạn sẽ ngạc nhiên với một cụm từ  lạ, có thể nói là chưa nghe bao giờ, nếu bạn không am tường về y lý cổ truyền. Và với những người trong nghề cũng có thể xa lạ. Vì khái niệm Ngũ Lộ Y Đạo tôi đọc được trong một Y thư chép tay của Thanh long phái . Khi tra  các tài liệu về y lý cổ truyền, không nhắc tới khái niệm này. Mà chỉ có Nhị lộ y đạo mà thôi.
Ngũ Lộ Y Đạo là 5 trường phái, 5 con đường, 5 sở trường, hay có thể hiểu là 5 phương pháp hành nghiệp của Y- Đạo. Các tài liệu cổ chỉ phân thành Nhị đạo. Đó là Vương đạo và Bá đạo. Còn tài liệu của Thanh long phái thì phân thành 5 đạo ( tôi là hậu duệ đích truyền của Thanh long phái). 5 Đạo đó là: Thánh đạo- Vương đạo- Bá đạo- Kỳ đạo- và Ma đạo. Ý nghĩa của Ngũ Lộ Y Đạo như sau:

1) Thánh Đạo: Là phương pháp người thầy thuốc dùng Y đức, và Tài năng cũng như Danh vọng  và Định lực của mình, khai mở tâm linh, hướng bệnh nhân đến cảnh giới Tiểu, Đại ngã hợp nhất( Con người và Vũ trụ). Để vận dụng năng lực vô tận của cơ thể trong việc tự trị bệnh, cũng như đánh thức tiềm lực, tiềm tàng của cơ thể hướng đến khả năng tự phục hồi các chức năng bị thoái hóa, và điều hòa quân bình trạng thái  phát triễn tự nhiên của cơ thể. Phù hợp với Thánh đạo là các nhà Khí công, Các Vị Đạo Sư…

2) Vương Đạo: là các phương pháp thành lập phương toa trị bệnh theo chiều hướng lấy chính khí làm gốc. Có nghĩa là dùng dược thảo và các y thuật khác, làm cho chính khí của bệnh nhân tăng vượng lên, trong đó Vinh khí có tác dụng bồi bổ chức năng hoạt động của cơ thể, Vệ khí có tác dụng bảo vệ, và đề kháng lại các yếu tố gây bệnh. Chính khí thịnh vượng, thì tà khí ( yếu tố gây bệnh) không có cơ hội thâm nhập, và hoành hành nữa. Khi chính khí được hưng vượng, mới dụng phép khu trục, tả, hạ .. để trợ giúp. Vương đạo thích hợp cho việc phòng bệnh, và điều trị những bệnh tuyệt chứng, bệnh kinh niên…..(Trị ở gốc)

3) Bá Đạo: Là phương pháp thành lập các phương, toa theo chiều hướng công phạt, lấy việc khu trục tà khí làm gốc. Có nghĩa là bệnh đến, thì tùy chứng mà dụng đối thuật ( Trị ở ngọn), hiểu nôm na là dập tắt triệu chứng. Bá đạo có lợi thế trong các bệnh cấp tính. Các phương pháp trị bệnh của Tây y hầu hết thuộc về Bá đạo như mổ xẻ, hóa dược….Thông thường một Thầy thuốc giỏi, là người biết kết hợp nhuần nhuyễn, và hợp lý giữa Vương Đạo và Bá Đạo. (Người nặng về Vương đạo thì hành nghề vì Y đức. Người nặng về Bá đạo thì hành nghề vì Y danh…Trương Trọng Cảnh)

4) Kỳ Đạo: là Y thuật trị bệnh bằng những phương pháp kỳ lạ, dị thường, thoát ra ngoài lý luận thông thường của Y-lý. Ví dụ như các phương pháp thôi miên, nhân điện, Sư tử hống… và các phương pháp dị thường khác có trong dân gian. Đặc điểm của Kỳ đạo, là bệnh được chữa trị khỏi một cách khác thường, rất khó lý giải bằng lý luận của Y lý, cũng như rất khó làm sáng tỏ bằng khoa học thực dụng. Kỳ đạo thường được những Kỳ nhân, Dị sĩ ứng dụng. Họ qua quá trình luyện tập, hoặc qua một nhân duyên nào đó, mà tạo hoá ban cho họ những năng lực đặc biệt. Và họ đã ứng dụng những năng lực đặc biệt đó vào trong việc chẩn trị bệnh tật.

5) Ma Đạo: là những Y thuật lợi dụng sự mê tín của bệnh nhân, để dùng những phương pháp không có căn cứ cơ bản của Y lý để trị bệnh. Ví dụ như bùa, ấn, chú, ngải, cúng kiếng, lập đàn, cầu tụng, cúng sao, lên đồng, nước thánh….Phương pháp này đáng chê trách, nhưng cũng không thể phủ nhận được những hiệu quả khác thường của nó. Đặc điểm của Ma Đạo là lợi dụng lòng tin tuyệt đối của bệnh nhân vào một thế lực siêu nhiên nào đó để tác nghiệp. Chính lòng tin tuyệt đối đó, được sự củng cố, thúc đẩy của các Ma thuật, làm chấn động, thức dậy, những tiềm tàng năng lượng thần kinh (Khí) trong cơ thể của bệnh nhân. Chính đó mới là tác nhân làm cho bệnh nhân khỏi bệnh. Trên thực tế, trong dân gian còn khá thịnh hành Ma Đạo. Bởi vì nó cũng có thành quả nhất định. Chính hiệu quả đó đã khẳng định sự tồn tại của Ma Đạo trong hệ thống Y thuật. Ma Đạo vẫn còn rất thịnh hành ở các dân tộc thiểu số ở nước ta, và rất phổ biến ở các bộ lạc ở châu Phi ( chúng tôi đã có nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này ở châu Phi, Tây tạng, Ấn độ và Mã lai)

Quay trờ lại vấn đề chữa trị Ung thư. Vậy thì những phương pháp chữa trị Ung thư của Y học hiện đại, được xếp vào trong Lộ nào của Ngũ Lộ Y Đạo?.
Cho đến nay Y học hiện đại cũng chỉ có ba phương pháp chủ yếu để chữa trị có hiệu quả. Đó là Ngoại khoa: tức là giải phẫu tách khối u ra khỏi cơ thể. Hoá liệu: Dùng hoá chất đặc biệt để phân huỷ khối u. Xạ liệu: dùng năng lượng của các sóng ánh sáng có tần số ngắn để bắn phá đốt cháy, thiêu huỷ khối u.
ngoài ra  còn có các phương pháp kết hợp đồng thời giữa 3 phương pháp trên như giải phẫu kết hợp với xạ liệu, Giải phẫu với Hoá liệu, Xạ liệu với Hoá liệu. Trong một vài trường hợp cũng có thể kết hợp cả 3 phương pháp.
Theo như đặc điểm đặc thù của Ngũ Lộ Y Đạo, thì các phương pháp chữa trị Ung thư hoàn toàn thuộc vào Bá Đạo. Việc sử dụng phương pháp Bá Đạo, để loại bỏ khối u là một Y thuật cần thiết, để kịp thời ngăn chặn sự phát triễn của tế bào Ung thư, bảo vệ tính mạng của bệnh nhân. Nhưng chỉ vì, chỉ sử dụng Bá Đạo mà ít quan tâm đến Vương Đạo, nên các phương pháp chữa trị của Tây y thường để lại những di chứng rất tàn khốc trên cơ thể của người bệnh.

Phương pháp Hoá liệu ngoài tác dụng tích cực là phân huỷ khối u, thì nó còn là một cuộc đầu độc cơ thể. Tác dụng của hoá chất đặc trị được định hướng tác dụng đến khối u để phát huy tác dụng, thì nó cũng đồng thời tàn phá một cách thảm khốc các cơ quan nội tạng khác, Như Gan, Thận, Lá lách, Ruột non, Tuỷ sống, Tế bào thần kinh …Tương tự  xạ liệu cũng vậy. Chính tác dụng phụ của xạ liệu và Hoá liệu đã làm cho Chính khí của cơ thể cạn kiệt, làm cho huyết sắc điêu tàn. thần sắc phát tán, tinh thần bạc nhược, da tái xanh xao vàng vọt, vật vờ hoảng loạn, râu tóc rụng, tai ù…. Một đặc điểm nữa là dù có bồi bổ bao nhiêu thì khả năng phục hồi rất chậm chạp. Chưa nói là xác suất di căn cũng không đảm bảo được rõ ràng. Khi chúng tôi bắt mạch những người sau Xạ liệu, thì thấy khí huyết mỏng manh như sợi tơ, mạch hư nhược đến hãi hùng. Đo trên máy đo sinh khí(Prognos- Diagnose- một loại máy đo khí huyết được Nga và Trung quốc kết hợp nghiên cứu dựa trên nền tảng Y-lý cồ truyền Trung Hoa) thì thấy biểu đồ Sinh lực (enegie) chỉ còn 20 đến 35 %. Điều đó chứng tỏ thể Khí của người bệnh đã thất tán, cạn kiệt hết. Kinh mạch trống rỗng, cho nên Khí không đủ để vận huyết đi khắp châu thân. Đấy là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc lập thành Phương-Toa trị liệu sau Hoá liệu. Vì Khí không đủ cho nên có bồi bổ huyết mạch bao nhiêu cũng không có kết quả.

Như đã trình bày trên, Xạ- Hoá liệu là một cuộc đầu độc, tàn phá cơ thể rất Bá đạo. Di chứng của nó là một cơ thể bị đầu độc và đã cạn kiệt sinh khí. Vì vậy thành lập phương toa sau xạ liệu dựa vào 2 nguyên tắc cơ bản. Đó là Giải độc, và Bồi bổ chính khí.

Một điểm bất lợi cho người thầy thuốc Đông y đối với cách thành lập phương toa này là sự xung khắc của hai nguyên lý trên. Giải độc thuộc về phép Đại tả có nhiệm vụ đào thải khu trục các chất độc do hoá dược để lại đang làm tổn hại đến chức năng vận động của các cơ quan nội tạng, đặc biệt là Gan và Thận. Còn bồi bổ chính khí thuộc vào phép Đại bổ. Hai phương pháp này có các thành phần dược liệu, và thủ thuật trái ngược nhau, nên rất dể triệt tiêu tác dụng.
Nếu không giải độc trước, mà vẫn dụng phép bồi bổ chính khí, thì tác dụng của dược liệu không được phát huy, vì chất độc đã hoá giải tác dụng của dược liệu. Nếu giải độc trước, rồi mới dụng phép bổ, thì rất nguy hiểm. Vì Sinh khí đã cạn kiệt, mà dùng phép đại tả thì khác nào vét cạn đi sinh lực cuối cùng của bệnh nhân.

Hai phương pháp này phải tiến hành đồng thời. Lúc này lại nảy sinh ra vấn đề, làm thế nào để dung hoà hai phương pháp trái ngược nhau được. Trong các pháp trị liệu cổ truyền,có pháp bình bổ, bình tả. Nhưng pháp này chỉ thích ứng với các bệnh ôn hoà. Dùng Bình bổ, bình tả trong trường hợp sau xạ liệu chỉ có tính nhỏ giọt, như muối bỏ biển.
Sau khi cân nhắc, và tham khảo nhiều tư liệu, cũng như thông qua kinh nghiệm lâm sàng, Chúng tôi quyết định Phương Toa, Giải độc cục bộ, và Bồi bổ cục bộ.Có nghĩa trong cùng một lúc dụng phép giải độc ở bộ phận này, đồng thời bồi bổ ở cơ quan khác.

Các cơ quan nội tạng, không phải đơn giản như ly tách, thì làm sao muốn rót vào ly nào thì rót, muốn hất đổ ly nào thì đổ được?
Đây là thành công của sự tìm tòi, nghiên cứu của chúng tôi.
Ngoài việc gia giảm các vị thuốc có  tính chất dẫn dụ thích ứng với từng nội tạng khác nhau. Thì dùng định lực của Khí công để dẫn thuốc là tốt nhất. Loại khí công nào có thể dễ luyện tập, và dễ dẫn khí đến từng nội tạng. Chúng tôi đã chọn Lục Tự Khí Công, để ứng dụng thử nghiệm, thì kết quả vượt quá khỏi mong muốn.

Tóm lại từ những nguyên tắc đó chúng tôi đã hình thành một phương toa trị liệu sau xạ liệu có hiệu quả rất mĩ mãn.

Nội dung của Phương- Toa như sau:
–  Giải độc : bằng cách dùng nước uống từ dược liệu có tính năng tác dụng giải độc thích ứng từng bộ phận ( sẽ trình bày ở phần ứng dụng)
–  Bồi bổ chính khí: bằng phương pháp ẩm thực, thông qua cách chế biến thức ăn kết hợp giữa thực phẩm và dược thảo
– Luyện tập Lục Tự Khí Công, đây không những là phương pháp tạm thời ứng dụng cho phương toa này, mà còn là một phương pháp luyện tập lâu dài, để bồi  bổ chính khí, và phòng chống di căn, bảo vệ sức khoẻ lâu dài.
Uống thuốc được bào chế từ dược thảo chuyên dụng, phòng chống di căn.

Qua nội dung của Phương toa như vậy, thì một điều quan trọng không thể thiếu được trong liệu pháp đó là việc luyện tập Lục Tự Khí Công.
Vì vậy riêng phần 2 của bài viết này Tôi sẽ trình bày cụ thể về Lục Tự Khí Công và những ảnh hưởng vô cùng kỳ diệu của một môn khí công đơn giản đến với việc phòng chống bệnh nan y nói chung và bệnh Ung thư nói riêng

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Tag Cloud

%d bloggers like this: