Just another WordPress.com site

NGŨ HÀNH KHÍ CÔNG

thuannghia | 29 April, 2010 22:22

Bộ Ngũ Hành Khí Công là một bộ nhu công nội gia tâm pháp của Y Thuật cổ truyền. Bộ khí công này lúc lưu truyền trong dân gian còn có những tên khác đó là Thái Cực Khí Công, Thái Cực Ngũ Hành Khí, Ngũ Hành Lục Tự Quyết…Thái Cực Lục Tự Khí..Dù mang tên gọi như thế nào thì hầu như bộ khí công này rất ít thay đổi về hình thức và kỹ thuật thâu nhiếp hô hấp.

Bộ Ngũ Hành Khí Công nhu nhuyễn, nhẹ nhàng, trầm nhiếp và rất an nhiên giao hòa. Đây là một bộ khí công có công năng điều hòa âm dương rất diệu ảo và tối thượng. Mặc dầu các động tác đơn giản, chậm rãi và bình dị, thuận theo sự vận động tự nhiên của cơ thể, nhưng có khả năng khai mở, điều hòa rất cao.

Sở dĩ bộ khí công này còn có tên gọi là Ngũ Hành Lục Tự Quyết hay là Thái Cực Lục Tự Khí là vì Tâm Pháp của nó dựa vào 6 chữ mà hành công: An nhiên như CÂY cỏ, Bồng bềnh như GIÓ thoảng, Trầm vững như NÚI non, Êm đềm như mặt HỒ, Bao la như BIỂN cả và Bình thản như Mây trôi

6 chữ : Cây- Gió- Núi- Hồ- Biển- Mây mang các hành như sau:
Cây là hành Mộc ứng với Can Đởm (gan- túi mật) trong cơ thể
Gió là hành Hỏa ứng với Tâm- và Tiểu trường  (Tim và ruột non)
Núi là hành Thổ ứng với Tỳ-Vị ( bao tử và lá lách)
Hồ là hành Kim ứng với Phế- Đại trường (Phổi và ruột già)
Biển là hành Thủy ứng với Thận-Bàng quang (Thận và bọng đái)
Và Mây là hành Hỏa ứng với Tam tiêu (Thủy lưu trong công thể)

Bởi vì 6 chữ mang hình tượng của tự nhiên trong tâm pháp của bộ khí công này lại ứng 6 chữ trong Lục Tự Khí Công ( xin bấm vào đây để xem http://www.youtube.com/watch?v=xZxNdcGOcNo  : ) đó là HƯ (mộc), HA (hoả), HÔ (thổ), HI (kim), SUY (thủy), HU (hỏa), cho nên dân gian nhầm mà gọi tên bộ Quyền này là Thái Cực Lục Tự Khí hay là Ngũ hành Lục Tự Quyết, và một vài người nhầm bộ khí công này là Bộ Tĩnh Công Lục Tự Quyết là Đệ Tứ trong ngũ đại tuyệt nghệ khí công (1. Dịch cân kinh, 2. Bát đoạn cẩm, 3 Ngũ cầm hý, 4. Lục Tự Quyết, 5. Ngũ Hành Khí Công)

Bộ Ngũ hành Khí công, hành công liên tục không ngưng nghỉ như các bộ khí công khác. Bắt đầu khởi công từ chữ CÂY (mộc) và kết thúc bởỉ chữ MÂY (hỏa). Có nghĩa là hành công theo Ngũ hành tương sinh mà bắt đầu từ hành Mộc theo thứ tự (Mộc- Hỏa-Thổ-Kim-Thủy-Hỏa)

Người luyện tập môn khí công này chỉ cần lưu ý hai điểm cơ bản rất đơn giản đó là Chữ gì ứng với cơ quan nào trong cơ thể là được, để khi mình có bệnh hay mất cân bằng âm dương ở bộ phận nào, thì lúc hành công tăng cấp số của chữ tương ứng lên nhiều lần để điều hòa trực tiếp vào nơi bị bệnh, ví dụ: bệnh về Gan, Thận, đau nhức, nhiễm độc…thì lúc hành công tăng động tác của chữ “cây” và chữ “biển” lên nhiều lần hơn các chữ khác là được

Điểm thứ hai là lúc hành công đến CHỮ nào ngoài việc giữ hơi thở vào ra đều đặn tự nhiên, thì nên hướng niệm tâm cảnh vào ý nghĩa của chữ ấy, ví dụ lúc hành công đến chữ Biển thì nghĩ về biển, lúc hành công đến chữ Mây thì nghĩ về mây, đến chữ Gió thì nghĩ về gió.

Quá trình trì luyện như vậy, không những âm dương ngũ hành đều hòa mà còn đưa trạng thái của cơ thể và tâm thức hóa nhập vào cảnh giới của tự nhiên. Lúc đó thân thể và tinh thần sẽ đạt được cảnh giới như Tâm Pháp đã đề ra: An Nhiên- Bồng Bềnh- Trầm Vững-Êm đềm , Bao la và Bình Thản đó chẳng phải là cảnh giới của sự Trường Cửu và Hạnh Phúc đó ư.?

Về vấn đề thâu nhiếp hơi thở, thì tuân theo hơi thở tự nhiên hài hòa với động tác chuyển động của cơ thể. Hít vào thở ra đều bằng mũi, miệng luôn ngậm lại.

Thực ra lý luận thì rắc rối vậy nhưng cách luyện tập rất đơn giản, dễ hiểu, đơn giản, nhẹ nhàng, không tổn sức và tốn rất ít thời gian. Chỉ có điều lúc luyện tập nên để thoáng cửa hoặc đến những nơi có không khí trong lành thoáng mát thì tốt hơn
________
Bấm vào đây để xem trình bày bộ Ngũ Hành Khí Công:

Cách Luyện Ngũ Hành Khí Công:

Thức thứ nhất: An nhiên như cây cỏ, thức này gồm có ba động tác chuyển động của tay khác nhau, lúc luyện thức này nên hướng tâm ý đến sự an nhiên tự tại của hoa lá cỏ cây
– Bấm vào đây để xem cách luyện động tác và hơi thở:

Thức thứ hai: Bồng bềnh như gió thoảng, thức này chỉ có một động tác, nhưng chuyển về hai hướng trái phải. Lúc luyện nên nghĩ đến những ngọn gió nhẹ nhàng thoang thoảng lướt qua
– Bấm vào đây để xem cách luyện động tác và hơi thở:
(link hỏng, mai làm lại)
   _______

Thức thứ ba: Trầm vững như nói non, thức này có 3 sự chuyển động khác nhau của tay, lúc luyện hướng tâm ý đến sự vững chãi trầm mặc của núi non đại ngàn
– Bấm vào đây để xem cách luyện động tác và hơi thở:
(có nhầm lẫn nhỏ…mai làm lại)
___
___

Thức thứ tư: Êm đềm như mặt hồ, thức này có 3 sự chuyển động của tay khác nhau, lúc luyện tưởng tượng như thân mình dập dờn trên những ngọn sóng lăn tăn của mặt hồ thu
– Bấm vào đây để xem cách luyện động tác và hơi thở:

Thức thứ năm: Bao la như biển cả. Thức này cũng đa động tác và lên xuống nhịp nhàng, tất nhiên lúc hành công cũng hướng tâm thức đến đại dương mênh mông vô tận.
– Bấm vào đây để xem cách luyện động tác và hơi thở:

Thức thứ sáu: Bình thản như mây trôi, lúc luyện thức này người như trôi nổi, lay động theo nhịp chuyển động của cơ thể, như những áng mây nhẹ nhõm lững lờ an nhiên trôi trong khoảng trời trong xanh và hiền hòa….
Bấm vào đây để xem cách luyện động tác và hơi thở:
(link hỏng mai làm lại..)
_____
Chúc thành công

uesday, 16th March 2010

Đau lưng, đau vai – cổ, đau đầu gối và đau đầu là bốn loại đau nhức mà có thể nói là những thứ bệnh rất “thời thượng” bây giờ. Nó không kinh hoàng như Ung thư, không khiếp hãi như đột quị, không dễ sợ như máu mỡ, áp suất máu cao hay “đa đoan đành đoạn” như tiểu đường. Nhưng nó triền miên âm ỉ, kinh niên thống khổ vô cùng.
Mà hầu như tất cả các thứ đau nhức nói trên đều xuất phát từ Cột Sống và có nguyên nhân sâu xa liên quan đến 4 cơ quan nội tạng Gan-Thận- và Tỳ – Vị.
Từ ngàn xưa, Y học cổ truyền đã có trăm phương nghìn toa điều trị những chứng đó, nhưng đến nay những thứ đau nhức ấy vẫn đang hoành hành bá đạo đày ải nhân gian. Y học hiện đại cũng có vô vàn thiên ủng máy móc thuốc men chuyên trị, nhưng đâu có trị tuyệt được những chứng đau nhức ấy đâu.
Thuốc, thuốc,.. thuốc, và thuốc. Những viên hóa dược như những liều độc tố, chỉ tạm thời ngăn chặn cơn đau và tàn phá phá nội tạng đã trở thành “diệu dược” được ưa chuộng. Dân số Trái Đất có hơn 6 tỷ người mà mỗi ngày tiêu thụ hết 2,5 tỷ viên “thuốc độc” (Tư liệu WHO). Thật không hiểu nổi !!!!!!
Ngay cả Châm Cứu và thảo dược cũng chữa trị và kìm hãm được cơn đau của một số bệnh có tính chất tạm thời chứ không thể nào chữa tuyệt nọc được.
Ví dụ như bệnh thoái hóa đĩa đệm, hay vôi hóa cột sống dẫn đến tình trạng chèn ép dây thần kinh gây nên chứng đau nhức thì ai dám đảm bảo là có thể châm cứu hay dùng thảo dược có thế chữa dứt điểm được. Ngay cả những biện pháp vật lý trị liệu kể cả châm cứu, cũng như giải phẫu cũng chỉ tạm thời xử lý triệu chứng trước mắt, chứ không thể nào đảm bảo bệnh không thể tái phát.
Những chứng bệnh này ngoài sự vận động tích cực phục hồi chức năng tự chữa bệnh của chính cơ thể người bệnh  thì không còn một phương pháp nào có thể gọi là dứt điểm được.
Và sự vận động tích cực có thể giúp người bệnh phát huy được khả năng tiềm tàng kỳ diệu của cơ thể trong việc phục hồi lại các cơ quan bị thoái hóa, và các chức năng bị suy giảm..đó là Khí Công.


Có người hỏi:-  bệnh vôi hóa đốt sống lưng đã dẫn đến tình trạng có gai đốt sống, thậm chí đã chèn đẩy xô lệch cột sống, thì ngoài việc giải phẫu để nạo vét nó đi là cách tối ưu nhất. Khí Công làm gì có khả năng đào thải được những gai đốt sống lưng đó?

Xin thưa:-  Việc giải phẫu để cắt bỏ nạo vét phần đốt sống lưng bị vôi hóa là một biện pháp hạ sách, trong trường hợp đặc biệt muốn trả lại tạm thời cho người bệnh sự vận động đang bị gai đốt sống chèn đau thì mới sử dụng mà thôi, bởi vì đốt sống được giải phẫu đó sẽ tiếp tục bị vôi hóa với tốc độ nhanh hơn. Còn Khí Công thì không những nhờ sự chấn động nội lực để phá vỡ, bào mòn những gai đốt sống lưng đó mà còn nhờ sự vận động khí lực nội tại có thể đào thải được những chất thoái hóa đông kết đó ra ngoài, mặt khác còn phục hồi lại chức năng của cơ thể tránh được tình trạng vôi hóa tiếp theo .


Lại hỏi: – Như đĩa sụn đệm giữa hai đốt sống lưng đã bị thoái hóa mòn vẹt, hai đốt sống cọ xát lên nhau, gây nên tình trạng khó vận động, hoặc bị chèn ép lên bó rễ thần kinh gây đau nhức, người ta thường giải phẫu để thay bằng đĩa đệm nhân tạo là tốt nhất, còn khi đĩa đệm đã bị mòn vẹt thì Khí Công làm sao mà đắp đầy lại được ?

Xin thưa:- Tại sao có người đĩa đệm bị thoái hóa, có người lại không bị. Tại sao có người gia 80, 90 tuổi đĩa đệm vẫn còn nguyên vẹn. Bởi vì cơ thể luôn luôn bồi đắp, bảo trì, tu dưỡng đĩa đệm bằng những tinh chất, thủy dịch được khí huyết vận động đưa đến từ việc hấp thụ thức ăn. Sở dĩ đĩa đệm bị thoái hóa, ngoài nguyên nhân sai lệch trong vận động, bị viêm nhiễm ra, thì nguyên nhân quan trọng nhất là chức năng bảo trì tu dưỡng đĩa đệm của cơ thể bị suy giảm. Khí Công là phương pháp tốt nhất để phục hồi lại chức năng đó cho cơ thể. Khi chức năng đó đã được phục hồi, thì sự bồi đắp và tu dưỡng đĩa đệm bằng tinh chất và thủy dịch, nhất định sẽ tạo lại phần đĩa đệm đã bị suy thoái, hay ít nhất cũng ngăn chặn được suy thoái tiếp theo.


Hỏi:-  Môn khí công nào có thể phục hồi lại đĩa đệm và chữa được các bệnh về cột sống và hệ vận động cũng như các bệnh đau nhức vì phong thấp ?

Thưa:- Bất kỳ môn Khí Công nào cũng có thể làm được điều đó, vì bản chất thật sự của Khí Công là điều hòa Âm Dưong, bồi bổ chính khí, hoạt huyết hành khí, tăng sức đề kháng, khai mở tiềm năng của cơ thể. Nhưng đương nhiên mỗi một môn có một thế mạnh riêng của mình. Trong suốt mấy chục năm vật lộn với bệnh đau nhức nói chung và các bệnh về cột sống nói riêng, theo kinh nghiệm của tôi thì bộ Bát Linh Công là môn Khí Công có tác dụng với các bệnh về Cột Sống và hệ vận động rõ rệt nhất, hiệu quả nhất và nhanh nhất.


Một nghiên cứu mới nhất gần đây về của Y học hiện đại về bệnh xương, đặc biệt là bệnh loãng xương của người già. Người ta thấy rằng nguyên nhân chủ yếu gây nên chứng này là do sự rối loạn thu nạp và điều chỉnh tích lũy các loại vitamin B (B1, B6, B12) và vitamin D của cơ thể. Một loại thuốc vừa mới sản xuất và đang lưu hành trong giới y dược đặc trị bệnh loãng xương chỉ có các thành phần 3 loại vitamin B1, B6, B12 và vitamin D, hiện nay được coi là “thần dược” để chữa bệnh về xương. (Otedorit)
Nghiên cứu về loại thuốc này là ở Lüberg, Đức kết hợp với tổ chức Võ Thuật liên quốc gia SVCC đang sử dụng Bát Linh Công để chữa bệnh về cột sống đã làm một cuộc nghiên cứu trắc nghiệm. Thì kết quả thấy những người luyện Bát Linh Công cơ thể của họ không còn thiếu các hàm lượng vitamin nói trên, mặc dầu họ không hề uống thêm loại thuốc nào.
Hơn 15 năm nay, tôi sử dụng Bát Linh Công kết hợp với Ngũ Hành Khí Công, Lục Tự Quyết và gần đây là Càn Khôn Thập Linh, hướng dẫn cho bệnh nhân có bệnh về cột sống tập luyện. Thì thấy hiệu quả ngoài hai chữ “Tuyệt Vời” ra không còn nói thêm được gì hơn nữa.
Hàng chục bệnh nhân có ngày hẹn giải phẫu cột sống, nhờ Bát Linh Công phối hợp mà lành bệnh, không cần phải giải phẫu và uống thêm viên thuốc nào
Tôi có một người thân ở Việt Nam, bị bệnh đau thắt lưng và đầu gối có khi không ngồi, không đứng dậy đi lại được, có nhờ tôi bắt mạch và ra toa. Tôi cho một toa thuốc, cắt uống 6 thang thì hết đau. Gần đây bệnh lại tái phát, có nhờ tôi cho lại toa. Tôi ừ hữ và lảng tránh. Vì thật ra toa thuốc đó chỉ kìm hãm cơn đau, nhờ bồi bổ Gan Thận tăng sức đề kháng của cơ thể mà có tác dụng giảm đau, chứ không có khả năng đào thải gốc bệnh là bị thoái hóa đốt sống thắt lưng (thần kinh toạ).
(Ừ hữ lảng tránh để chờ dịp có duyên truyền thụ cho Bát Linh Công mà tự luyện. Nhưng có lẽ… than ôi! Người Việt mình thích nuốt cái thứ độc dược được gọi là Thuốc hơn là vận dụng “Thánh Dược” trong chính cơ thể của họ..hu hu…đây cũng là “kinh nghiệm” trong nghề).
Về xuất xứ của Bát Linh Công tôi đã trình bày trong các phần trước.
Phần này tôi xin đi vào từng phương pháp chữa từng bệnh cụ thể về Cột Sống:


Bát Linh Công là 8 thức Khí Công lấy tướng của 8 loại Linh Thú làm cơ sở đó là Ưng-Hổ-Long-Phụng-Xà-Hầu-Qui-Hạc (chim ưng, hổ, rồng, phượng, rắn, vượn, rùa, hạc). Mỗi một thức đều có tính khai mở, chấn động, điều hòa khác nhau, và thích hợp với từng trường hợp bệnh lý khác nhau.
1) Đau vùng thắt lưng, đau lưng do thận suy, thoái hóa đĩa đệm hay vôi hóa đốt sống vùng thắt lưng.
Qui Thức (thế con rùa)
Ưng Thức (thế con chim ưng)
Long Thức (thế con rồng)
Hầu Thức (thế con vượn)

Qui Thức (thế con rùa

 

___- Chuẫn bị:  hai chân bước rộng quá vai, rùn người xuống tấn trung bình
– Hít vào: Hay tay từ đưa lên cao trước mặt
– Thở ra : xoay người ra sang bên trái hai tay từ từ hạ xuống, kéo lui người xuống phía sau
– Hít vào, từ từ nâng người dậy, hay tay nâng lên, nín hơi, nhón đít
– Thở ra, từ hạ người xuống, lưng thẳng, cổ ngước cao
(lặp lại 3 lần)
– Hít vào, đứng dậy thế trung bình, xoay người lại vị trí ban đầu, hay tay ngửa ra phía trước mặt
– Nín hơi, kéo khoát tay ra phía sau-xuống dưới, khi hay tay ngang hông, giật tay xuống thở hắt hết hơi ra
(lặp lại như vậy phía bên phải)
– Hít vào: hai tay chắp lại đâm về phía trước, đứng dậy, nín hơi nhón chân
– Thở ra, từ từ kéo khoát tay ra phía sau, hạ người xuống
(lặp lại nhiều lần, thế này như kiểu bơi lội vậy)
Tác dụng: Chấn động tích cực lên vùng lưng hông, tác dụng đến Gan Thận, hoạt huyết hành khí ở tủy sống. Điều hòa khí huyết ở vùng bộng đái và bộ phận sinh dục. Hoạt khí ở Đại Trường.

Ưng Thức (thế con chim ưng)
 

– Chẫn bị: bước rộng hơn vai, xuống tấn trung bình
– Hít vào, vung tay đột ngột, cắt chéo trước mặt. Vươn rộng lên cao hai bên, từ từ hạ xuống
– Thở ra: Hạ tay xuống từ từ, đột ngột thở hắt ra, cúi thấp người xuống là là mặt đất, hai tay thủ quyền đánh gập sát vào nhau trên mặt đất
– Hít vào: hai ta  vươn ra hai bên, người là thấp xuống đất cổ vươn lên nhìn ra trước mặt.
– Thở ra: hai tay quành ra sau lưng lòng bàn tay ngửa, chỉa ra bên như cánh đại bàng
– Hít vào, thân hình giử nguyên tư thế, nín hơi, nghiêng qua trái, nghiêng qua phải
– Thở ra: nhổm người giử vị trí lúc hạ thấp người xuống
(lặp lại 3 lần)
– Hít vào:  đột ngột vòng tay xuống đất như vốc nước vậy cắt chéo ra trước mặt, đứng dậy, vung tay lên cao
– Thở ra: từ hạ tay xuống, lòng bàn tay úp xuống đất, lúc tay xuống ngang hông, giật vai ấn chưởng xuống và thở hắt hết hơi ra
– Thở vào: vòng tay múc ôm trước mặt, đứng dậy, nhót đít,  nâng hay tay lên trên quá đầu
– Thở ra từ từ vuốt xuống sau gáy rùn người thấp xuống.
(lặp lại nhiều lần, chỉ có thay đổi vuốt gáy và vuốt mắt khi hạ người thở ra)
– Tác dụng: chấn động kích thích mạnh ở Gan Thận Tỳ Vị. đặc biệt tốt cho chứng thận suy, gan yếu. Vận động sự thâu nhiếp và hoạt khí Hậu Thiên. Bền gân, sáng mắt, đen tóc và trường thọ.

_____
 Long Thức (thế con rồng

Long Thức là thức thế chủ trị về cột sống. Với nhiều trường hợp bị đau đột ngột, hoặc đau quặt quẹo không đi đứng được như đau thần kinh tọa chẳng hạn, chỉ cần tập một thức này nhiều lần là có thể đi lại hay ngồi nằm mà không đau đớn như trước
– Chuẫn bị: Xuống tấn tung bình
– Hít vào hay tay vươn ra hai bên lên cao, từ từ đứng dậy, nín hơi chắp hai lòng bàn tay lại như chưởng vái lạy vậy
– Thở ra: chắp tay hạ xuống trước ngực, rùn người xuống
– Hít vào: nghiêng người qua trái, cuì chỏ phải đặt lên đầu gối trái, tay chỉa về phía trước , quay đầu lên nhìn cho dúng vào chót cùi chỏ trái
– Thở ra ở tư thế đó
– Hít vào, nhón đít- thở ra
(lặp lại 3 lần)
– Hít vào, chuyển tư thế ấy sang phải (cùi chỏ trái đặt lên đầu gối)
phải cũng hít vào thở ra ba lần như vậy)
Thế kết:
Hít vào: đứng dậy vươn rộng hai tay lên trên
Thở ra: hạ tay, rùn người xuống, khi tay đền vùng hạ bộ thì thở hắt ra hết,
Hít vào lại vòng tay ra lên cao, đứng dậy
Thở ra lại rùn người xuống….


Hầu Thức (thế con vượn)

___Hầu Thức và Xà Thức là hai thế có tính chất nhu nhuyễn trong Bát Linh Công.  Hầu Thức có tác dụng thanh lọc trọc khí, phá kết giải độc rất tốt, ngoài ra còn có tác dụng định thần an khí rất hay. Nếu bị đau nhức toàn thân, không rõ nguyên nhân, hay bị nhiễm độc, ngộ độc thức ăn, bia rượu…luyện hầu thức có thể khắc phục loại bỏ được hậu quả, và tránh được đau nhức, nhất là các chứng phong thấp tê bại….
– Hầu thức cứ hít vào thì đứng người dậy, nhón chân lên và thóp đít, thở ra thì chùn người xuống
– Hầu Thức tương tự như thế “vẫy tay” của một môn khí công đang thịnh hành trong nhân gian để phòng chống bá bệnh.  Chỉ khác hơn ở chổ hầu thức chậm rãi và như nhuyễn hơn.

2) Đau nhức vùng cổ gáy, nhức vai cổ, thoái hóa đĩa đệm hay vôi hóa đốt sống cổ
Hổ Thức (thế con hổ)
Long Thức (thế con rồng)
Hạc Thức  (thế con hạc)
Xà Thức (thế con rắn)
_____

Hổ Thức (thế con hổ)


– Tư thế chuẫn bị: Đứng hai chân trước sau. Chân trái phía trước, trọng tâm nghiêng về phía sau, chân trái nhớm bàn đặt thế vào gót chân. Người thẳng nghiêng sau.
– Hít vào, chồm người về phía trước, hai ta vươn vòng ôm lấy khoảng không kéo úp vào ngực, người nghiêng giật lại phía sau.
– Giử hơi
– Thở ra, hai lòng bàn tay xoay ngữa ra ngoài, đẩy lên ra lên trên đầu, trọng tâm dồn về trước. Cánh tay, đầu cổ lưng gáy và chân tạo thành 1 đường thẳng như cắm nghiêng vào mặt đất
– Hít vào, từ từ vòng tay qua đầu, nghiêng người ra phía sau, hạ tay từ từ xuống hai bên
– Khi hay tay  vừa xuống dưới hông, thì bất ngờ buông vai và thở hắt hết hơi ra
– Hít vào, hai tay úp xuống ngang cổ tay, thả lỏng và nâng ra lên trước mặt, người chồm về phía trước,
– Nín hơi kéo hay tay theo vòng thuận từ dưới lên trên, từ trước ra sau, theo cơ thể nghiêng người về phía sau,
– Thở ra và từ từ hạ tay xuống theo vòng thuận để bắt đầu hơi thở tiếp.
Tác dụng: Khai mở và điều hòa hai mạch Nhâm Đốc, chấn động tích cực lên dọc cột sống, từ gót chân lên đỉnh đầu, đặc biệt là các khớp vai cổ, bền chắc cơ gân, và điều hòa phủ tạng, đặc biệt bồi bổ chính khí Tỳ-Vị
(Thế điều hòa kết thúc Hổ Thức tương tự như thế Khôn trong Càn Khôn Thập Linh của Thầy Hằng Trường)
_____
Long Thức (thế con rồng)
(xem phần trên)

Hạc Thức  (thế con hạc)

Hạc Thức là thế tích lũy nội lực cực kỳ uyên thâm
Chuẫn bị: xuống tấn trung bình
Hít vào: hai tay quay thuận chiều kim đồng hồ, tay phải từ trên xuống  dưới, tay trái từ dưới lên trên, lòng bàn tay phải ngữa, tay trái sấp.
Thở ra: hai tay từ từ ép lại
Hít vào, động tác ngược lại, thở ra ép lòng bàn tay lại
Lúc nghiêng về bên nào thì bàn tay nào bỏ trên thì đưa lên cao phía trước, còn tay phía dưới thì vòng lên và móc ra phía sau

– Hạc thức lúc nghiêng về hai phía phải trái, mỗi bên có 3 hơi thở, lúc hít vào nhớm chân lên thót đít vào
– Ở các thế chuyễn tiếp, lúc thở ra ép hai lòng bàn tay vào nhau rồi đột ngột thở hắt ra
Thế đều hòa:  Hít vào hai tay ôm như ôm khối cầu trước bụng lăn sang một bên, lúc thở ra hay tay như khoát đẩy lại phía ngược lại. Lưu ý lúc tay ở vị trí nào thì mắt nhìn ở vị trí đó


__
Xà Thức (thế
rắn)

 

    Xà Thức là thức tối thượng trong Bát Linh Công. Video trình bày trên đã giản lược cho hợp với thế thức của người bệnh. Còn nguyên bản chỉ dành riêng cho những người vận khí chữa bệnh, hay dành cho những người đã có trình độ uyên thâm trì luyện Bát Linh Công.
– Chuẩn bị: xuống tấn trung bình, hay tay chắp mặt vào nhau tước bụng, tay phải trên, tay trái dưới.
– Hít vào một hơi thật sâu, ém khí đan điền
– Nghiêng người qua trái quay tay ba vòng, từ trong ra ngoài, từ trước ra sau: Ngược chiều kim đồng hồ.
– Rút tay về vị trí cũ trước bụng mới thở ra
– Hít vào, tay trái lật úp nên tay phải
– Nín hơi, quay tay 3 vòng cùng chiều kim đồng hồ nghiêng về bên phải
– Rút tay lại vị trí cũ, thở ra
– Hít vào, tay phải chồm thẳng ra phía trước, ngược chiều kim đồng hồ
– Thở ra tay trái lòng dưới tay phải quay chồm ra phía trước ngược chiều kim đồng hồ
– Thở ra hít vào, quay như vậy 3 phía, trước mặt- bên trái- trước mặt- bên phải-trước mặt.
– Hít vào một hơi dài, ém khí quay trước mặt 3 lần- thở ra
– Hít vào ém khí đan điền. Quay thật nhanh thật nhiều vòng, từ dưới lên trên rồi đột ngột giật tay thả hắt hết hơi ra.
Hít vào, thở ra, từ từ hay tay úp xuống đất xoay song song ngược từ dưới lên trên.

______
3) Đau thần kinh tọa, đau đầu gối
Phụng Thức (thế chim phụng)
Long Thức (thế con rồng)
Qui Thức (thế con rùa)
Ưng Thức (thế chim ưng)
_______

Phụng Thức (thế chim phụng)

Phụng Thức là thức có tác dụng điều hòa tạng phủ rất kỳ diệu, ngoài ra còn có tác dụng định thần, an ý rất diệu dụng. Ngoài tác dụng chữa đau đầu, nhức mỏi tứ chi, còn có tác dụng an thần chống hoảng loạn tinh thần, suy nhược thần kinh rất tốt.
– Hạc thức lúc đưa chân lên thì hít vào, lúc hạ chân xuống hay đưa ra sau thì thở ra
– Ở tư thế Phụng Hoàng chân trước chân sau, thì dụng đến 3 hơi thở.
Lúc hít vào nhón cả hai chân về phía trước, thóp đít vào, tay nắm lại. Lúc thở ra thì  hạ người ra phía sau, và xòe tay ra.
______

Long Thức (thế con rồng)
Qui Thức (thế con rùa)
Ưng Thức (thế chim ưng)
(xem video phía trên)
________
4) Bệnh phong thấp, tê thấp nhức mỏi toàn thân thì dùng các thế
Hổ Thức
Ưng Thức
Long Thức
Hầu Thức và Hạc Thức
(Xem video phần trên)
_______
Lưu ý:
Sự thâu nhiếp hô hấp trong Bát Linh Công tuân thủ theo nguyên tắc: hơi thở trải qua ba giai đoạn: hít vào-giử hơi-thở ra. Hít vào thở ra giử hơi đều bằng mũi. Miệng hoàn toàn ngậm trong quá trình luyện công.
– Nếu bị đau nhức hay thoái hóa cột sống cả cổ gáy và thắt lưng hay bị thần kinh tọa, phong thấp, lưng gối đều đau nhức thì nên tập cả 8 thức thì tốt
– Nếu bắt đầu tập luyện khởi công bằng 4 thế Khí Công Tâm Pháp Biệt Truyền mất độ 7 đến 10 phút để khởi động. Luyện Bát Linh Công mất độ 25 đến 45 phút để cố sáp gân cốt, bền vững sống lưng, bồi bổ gan thận. Sau đó dành độ 7-10 phút để luyện Ngũ Hành Khí Công để điều hòa châu thân thì không có một thứ thuốc thang nào sánh bằng để phòng chống bá bệnh . (Các bài vừa nhắc đã trình bày trong các phần trước)

(Nếu mỗi ngày mất độ 1 tiếng cho việc luyện tập này mà còn có bệnh tật mới là chuyện lạ và sống tới 100 tuổi vẫn coi đó là chết non he he…)

________
Phụ Lục :
Xem một đại sư khí công lừng danh biểu diễn Hổ Thức và Ưng Thức ở đây
Đại Sư Lim là một Khí Công sư thuộc dòng Bát Linh Công có những cuộc biểu diễn khí công hầu như khắp nơi trên thế giới


______
Xem một vị Đại Sư khí công 80 tuổi người Trung Hoa trình bày năng lực của Khí Công:

_

Khí Công Sư Jon Chang là một Đại Sư khí công nổi tiếng thế giới, đã có hàng trăm nhà nghiên cứu, làm nhiều cuộc thẩm tra khoa học về năng lực siêu nhiên của Ông. Những hình ảnh trong Video là hoàn toàn sự thật. Và chính tôi cũng đã tận mắt chứng kiến ông biểu diễn nhưng kỳ năng trị bệnh của Ông trong hội nghị Khí Công Quốc Tế ở Áo Quốc. Ông thuộc Ngũ hành Khí Công phái.


_______
Thực hiện: Thuận Nghĩa

Lại nói về chuyện Cường Dương Tráng thận. Khi nhắc đến cụm từ này trong y dược người đời thường nhầm lẫn đó là “dâm dược”. Có nghĩa là loại thuốc dành cho chuyện tình dục của đàn ông.

 Đó là một nhận thức sai lệch khá trầm trọng.

Thứ nhất đó không phải là là loại thuốc chỉ dành cho đàn ông. Mà nó chính là loại thuốc bổ thận cho cả hai phái, trong đó phái Nữ cần sử dụng nhiều hơn. Ngoài việc chữa bệnh Thận Suy nó còn có chức năng bồi bổ nguyên khí, giữ gìn sắc đẹp và tươi nhuận da tóc, trẻ lâu…

Thứ hai ai cũng nghĩ thuốc cường dương tráng thận là dành cho những người vì “chuyện ấy” bị suy giảm. Thật ra như Cụ Lê Hữu Trác nói “trăm thứ bệnh đều do thận suy mà ra”

Trong khuôn khổ bài viết này mình không tiện đưa ra những lập luận về Y Lý nói về 2 quả thận âm và thận dương. Chỉ xin nhắc nhở với bạn hữu rằng. Hơn 70% bệnh áp suất máu cao, đột quị đều có nguyên nhân từ Thận Suy. Gần quá nửa (50%) nguyên nhân sâu xa cho tất cả các bệnh đau nhức cũng đều do Thận Suy mà ra. 60% bệnh hen suyễn, dị ứng thời thiết, dị ứng phấn hoa cũng do Thận Suy mà có. Đó là chưa kể do Thận Suy mà dẫn đến hội chứng Thủy Hỏa vị tế tức là Tâm Thận Bất Giao, đó chính là căn bệnh mà Tây Y gọi là Suy Nhược Thần Kinh. Thế đấy hầu như những bệnh nan y mà người ta thường gọi là “căn bệnh thế kỷ” đều có nguyên nhân từ suy chức năng Thận

Vậy thì việc Cường Dương Tráng Thận (tăng cường chức năng Thận dương, bồi bổ làm cho thận cường tráng) đâu phải chỉ dành cho đàn ông. Trong khi chính Đàn bà mới bị suy chức năng Thận nhiều hơn:

Vì Phụ Nữ phải sinh đẻ, nuôi dưỡng bào nhi, rồi mỗi tháng phải hao hụt nguyên khí vì chu kỳ kinh nguyệt. Bộ phận sinh dục của Nữ giới lại dễ bị viêm nhiễm, nên phụ nữ dễ bị Thận Suy hơn đàn ông

Hơn nữa phụ nữ lớn tuổi trong thời kỳ mãn kinh thường bị rối loạn nội tiết (hóc-môn) tuyến thượng thận và tuyến giáp trạng, và tuyến yên. Dẫn đến triệu chứng lãnh cảm trong tình dục, máu huyết thất thường, áp suất máu không ổn định, bứt rứt bồn chồn khó chịu, mất ngủ, nhạy cảm trong quan hệ giao tiếp với người thân, và sinh tật càm nhàm nói nhiều ….tất cả cũng đều do Thận Suy mà ra.

Chính cái toa “Thốc Kê Hoàn”  nguyên thủy cũng dành cho phụ nữ mà.

Bây giờ đi vào điểm chính, trình bày 3 diệu phương còn lại không thôi bà con lại nói mình là dông dài nhiều chuyện (mà dông dài thật rồi đó chứ).

Tôi không trình bày các toa thuốc có tính chất kinh điển, vì những toa đó đã có trong các Y thư và do các Thầy thuốc trực tiếp xem bệnh cho bệnh nhân mà bổ toa cho phù hợp. Tôi chỉ trình bày các toa thuốc lưu truyền trong dân gian, mà tác dụng của nó dành cho tất cả mọi đối tượng, hoàn toàn không có tác dụng phụ. Người suy thận dùng cũng được, người không mắc chứng thận suy nhưng muốn bồi bổ nguyên khí dùng càng tốt. Và tất nhiên người muốn trẻ lâu, muốn bảo dưỡng sắc đẹp, muốn có sức lực của sự hồi xuân, muốn da dẻ hồng hào, tóc đen mắt sáng dùng càng hay.

Hồi năm 1984/1985 mình hay đi du ngoạn ở những nơi sơn cùng thủy tận để sưu tầm các toa thuốc quí lưu truyền trong dân gian, có quen một cô gái ở miệt Cầu Ngang tỉnh Vĩnh Long. Cô này là con út nên thường gọi là Út X. Khi ghé thăm nhà cô ở miệt vườn mới kinh ngạc té ngửa ra. Cô ấy là con út trong một gia đình có 17 người con, 14 trai và 3 gái, tất cả cùng một cha một mẹ, và tất cả đều sống khoẻ mạnh, chỉ trừ anh bảy chết trong chiến tranh vì đi lính mà thôi.( Sau này qua Tiệp mình có gặp anh Mười Bốn bên ấy)

Kinh ngạc không phải vì Tía của cô ấy, vì đàn ông vẫn có khả năng sinh nhiều con hơn, nhưng kinh ngạc vì Má cô ấy. Sinh đẻ 17 lần nuôi nấng con đàng hoàng mà hai Ông Bà vẫn quấn quít bên nhau như thời trẻ, vẫn khỏe mạnh không hề đau nhức gì, vẫn cứ làm vườn làm ruộng như những điền nông cường tráng khác. Cháu gọi Út X bằng dì bằng cô ruột có người lớn hơn Út cả chục tuổi, thế mới kinh chứ.

Hỏi ra mới biết là Tía Má của Út X thường uống một loại rựợu ngâm bộ Tam xà với thuốc Bắc. Do mình dễ thương ( he he…nổ phát chơi)  nên Ông bà muốn kén làm rể. Khổ nỗi mình không biết uống rượu. Mà dân miền Tây không biết uống rượu đế thì coi như bỏ, vì vậy mà Ông mới hiến cho mình cái toa này để tập uống cho quen vì tác dụng phi thường của nó. (he he đến bây giờ vẫn chưa làm ngụm rượu nào, trượt làm chú rể…) Toa này mình đã chỉ cho rất nhiều người. Họ dùng xong nói là Đệ Nhất Tửu, vì vậy toa này mình cũng tự đặt cho nó cái tên là Đệ Nhất Tửu.:

Đệ Nhất Tửu:
Một bộ tam xà: Rắn hổ mang, rắn cạp nong, và rắn ráo hay rắn cạp nia)

Thục địa 10 gam,  Sa sâm 50 gam, Cẩu tích 30 gam, Huyết giác 30 gam, Ngũ gia bì 30 gam,

Hà thủ ô đỏ 30 gam, Huyết Đằng 50 gam. Đem ngâm vào 5 lít rượu gạo. Chôn xuống đất 3 tháng sau đem dùng. Uống với bữa ăn một lần một ly mắt trâu nhỏ (Đàn bà có thai không nên uống). Tác dụng cường thân hộ thể, ăn ngon, ngủ tốt, sinh lực dồi dào bất tận

 

 

 

Thần tiên tửu: Sa sâm, thục địa mỗi thứ 20 g, phục linh, bạch thược, xuyên khung mỗi thứ 12 g; bạch truật, cao hổ cốt, lộc giác, kỷ tử, thương truật, mộc qua, khương hoạt, độc hoạt, ngưu tất, đỗ trọng, tục đoạn, tần giao, trần bì, đại táo, đào nhân mỗi thứ 8 g, nhục quế 4 g, cam thảo, đại hồi mỗi thứ 6 g, đương quy 16 g. Đem ngâm với 2 lít rượu ngon, để 7 ngày đêm rồi lọc rượu ra, dùng 120 g đường phèn nấu với nửa lít nước để nguội đổ vào rượu thuốc đã lọc mà uống. Lại ngâm tiếp lần thứ hai như trên.

Tác dụng: Bồi bổ thần kinh khí huyết, tăng cường sinh lực, tăng tuổi thọ, chữa thận yếu, liệt dương, liệt nửa người, yếu sinh lý. Khi giao hợp, uống 3 ly con sẽ không biết mệt. Bệnh nhân hấp hối uống vào có thể sống thêm 24 giờ.


Thung dung xà sàng tửu
: Nhục thung dung, ngũ vị tử, sơn thù du, sơn dược, phục linh mỗi thứ 32 g, rượu 1,5 lít, đường phèn 200 g. Giã thuốc vụn, ngâm rượu 50 ngày là dùng được, nam nữ đều dùng. Tác dụng: Làm khỏe nội tạng, tiêu hết mệt nhọc, hồi xuân bất lão, lành mạnh sinh hoạt vợ chồng.

Còn đây là bộ Thiên Lý Tiêu Dao, nếu chuyên cần luyện tập thì các  toa diệu dược trên không thể nào sánh bằng được. Không những cường dương tráng thận mà mọi bệnh tật cũng phải lùi lại sau lưng, có thể phòng ngừa được các bệnh hiểm nghèo khác



Hai người Phụ Nữ này bị suy thận nặng và áp suất máu rất cao. Có nguy cơ bị đột quị
_______________


Người này bị ung thư ngực và đã qua hóa trị, không bị de dọa vì ung thư nữa nhưng phản ứng phụ của thuốc hóa trị đã ảnh hưởng gan thận rất nặng nề
____________________


Còn người Phụ nữ này bị ung thư dạ con đã đến thời kỳ di chứng. Bà đã nhờ luyện tập bộ Bát Quái (Đã truyền cho Bọ Vinh và Chị Mai, Trường Mỡ..) và uống thuốc Procurcumin mà đỡ bệnh. Hiện nay đang ráo riết muốn luyện thêm Thiên Lý Tiêu dao
________________


“không có phương toa nào hay, không có thầy thuốc nào giỏi bằng chính cơ thể của bạn”
_____________________
Thiên Lý Tiêu Dao, mỗi bước có 4 thức, mỗi thức có 3 hơi thở vô-ra. Các thức giống nhau về hơi thở và tay. Chỉ khác nhau ở chổ lên xuống của hai chân
Thiên Lý Tiêu Dao, tập lúc nào, ở đâu, bao nhiêu bước mỗi ngày đều được.


Đứng tự nhiên thả lỏng cơ thể
_______________________________


Hít vào
_________________

Thở ra
____________________


Hít vào
_______________


Thở ra
________________


Hít vào
________________

Thở ra

Thuannghia | 05 March, 2010 03:21


____Tiếp theo phần 1 và 2_________
…..
Tôi vốn rất đam mê Võ Thuật Dưỡng Sinh, và chỉ riêng Võ Thuật Dưỡng Sinh và các môn vận động Dưỡng Sinh bảo vệ sức khoẻ cũng như liên quan đến việc phòng và chống bệnh tật thôi. Còn các môn võ thuật mang tính chiến đấu hay các môn Khí Công nhằm mục đích thành đạt những khả năng siêu nhiêu thì tôi ít quan tâm, và chỉ tìm hiểu và luyện tập theo kiểu “cưỡi ngựa xem hoa”.

Mấy năm trước có người bạn thân từ Mỹ sang, thấy anh luyện một môn  Dưỡng Sinh rất lạ. Vừa giống như Khí Công, vừa na ná Thái Cực Quyền, lại man mác màu sắc của Yoga. Mặt khác Tâm Pháp của môn dưỡng sinh này lại hoàn toàn đậm đặc phong cách của Phật Giáo, vừa thanh thoát huyền nhiệm  như ý chỉ của Thiền Tông vừa uyên nhiên thăm thẳm thâm sâu như Hoa Nghiêm Tông, bát ngát bao la tinh thần Bát Nhã.  Đó là bộ Càn Khôn Thập Linh

Anh là một cư sĩ trường chay  đoạn dục đã hơn 25 năm nay và cũng là một trong những đệ tử của Hoa Nghiêm Tông, học trò của Thầy Hằng Trường. Thấy anh say mê luyện tập mộn dưỡng sinh này rất rốt ráo. Nhìn qua bài luyện tập của anh, tôi đã thấy sướng âm ỉ và rất thống khoái với các chuyển động của cơ  thể và cách thu nạp hơi thở.

Tôi được anh cho xem 20 dĩa CD, và  tận tình chỉ bảo trực tiếp, từng ly từng tý. Khi cùng anh luyện tập môn dưỡng sinh này, tôi có nói với anh là tôi cảm thấy rất thân quen với Càn Khôn Thập Linh. Anh cười và nói “Có lẽ vì chú có duyên với Càn Khôn Thập Linh mới có cảm giác đó thôi”. 

Tôi trình bày cho anh xem những môn Dưỡng Sinh khác mà tôi đã may mắn có cơ duyên luyện tập. Trong đó có bộ Thiên Lý Tiêu Dao và bộ Bát Linh Công được đệ tử “ruột” của Đại Sư Độ Giác trực tiếp chỉ bảo, và bộ Lục Tự Quyền thì được chính ngay Đại Sư Khổ Toại truyền thụ. Và tất nhiên cũng nổi hứng “dạo qua” Thái Cực Quyền  Nhị Thập Tứ Thức của họ Dương,  Ngũ Hành Khí Công, và Ngũ Cầm Hí của Đạo Gia và Y Gia… Anh xem tôi biểu diễn các môn dưỡng sinh đó và vô tư nói: “thì cũng na ná như Càn Khôn Thập Linh thôi”. Tôi trương cổ lên cải: “Sao lại na ná như Càn Khôn Thập Linh,  phải nói là Càn Khôn Thập Linh na ná như những môn kia mới phải chứ”. Nét mặt anh vẫn hồn nhiên như trẻ thơ và trả lời: “cái nào giống cái nào mà chẳng được, vì làm gì có Trước với có Sau, có Hay với có Dỡ, chỉ là có Duyên hay không có Duyên mà thôi….”

Quả đúng là như vậy. Cổ nhân đã để lại cho hậu thế hàng ngàn pho Dưỡng Sinh huyền nhiệm để luyện thân dưỡng tính bảo vệ sức khoẻ, nhưng có được bao nhiêu người luyện tập đâu, và đã  mấy ai đạt được huyền cơ trong đó.

Kho tàng Võ Thuật Dưỡng Sinh và Khí Công của Tiền Nhân đã truyền lại cho hậu thế có từ hàng trăm năm hàng ngàn năm trước, bao la bát ngát vô cùng. Không kể những pho bí truyền mà đến bây giờ chỉ lưu truyền trong các môn phái Võ thuật, thì những pho Dưỡng Sinh bất hủ, di sản Văn Hoá nhân loại, đang được phổ cập rộng rãi trong dân gian vẫn luôn luôn mở rộng ngưỡng cửa để chờ đón những hành giả, khám phá chính cơ thể, và tâm linh của chính mình, đưa cơ thể của người luyện tập đến cảnh giới “bất hoại” của Thiên Nhiên.

Cùng với các trường phái Yoga của Ấn độ, ngày nay Thái Cực Quyền và Khí Công của Á Đông đã dần dần trở thành một trong những phương pháp tối ưu nhất để bảo vệ sức khoẻ trong hệ thống Y Học Hiện Đại.

Về Thái Cực Quyền thì có các môn phái chủ yếu đó là Thái Cực Quyền của Họ Dương, Thái Cực Quyền của họ Trần, Thái Cực Quyền của Võ Đang …

Mời bấm vào đây để xem  đầy đủ các bài Thái Cực Quyền hiện đang lưu hành rộng rãi ở phương Tây: http://taiji.de/

Còn các môn Khí Công được truyền bá rộng rãi hiện nay cũng  vẫn là Ngũ Đại Tuyệt Nghệ Khí Công cổ truyền:

1)    Đệ Nhất : Đạt Ma Dịch Cân Kinh của Phật Gia

2)    Đệ Nhị : Bát Đoạn Cẩm của Phật Gia và Đạo Gia

3)    Đệ Tam: Ngũ Cầm Hí của Đạo Gia và Y Gia

4)    Đệ Tứ: Lực Tự Khí Công của Y Gia

5)    Đệ Ngũ : Ngũ Hành Khí Công của Đạo Gia

 

Bấm vào đây để xem tất cả Xuất Xứ, Cách Luyện Tập, Tác Dụng…của Các Môn Dưỡng Sinh đang lưu hành trên thế giới. Và đặc biệt là cách luyện tập bằng băng hình có phụ đề giải thích bằng tiếng Việt

1)    Bấm vào Youtobe.com: (bấm vào dưới đây)

          http://www.youtube.com/ 

2)    Điền vào ô tìm băng video: thuannghiakc rồi bấm máy tìm

(hoặc gõ vào Google phần Videos chữ:  thuannghiakc )

Sẽ hiện lên tất cả các băng video trình bày các môn Võ Thuật Dưỡng Sinh và Khí Công nói trên)

3)    Khi đã hiện ra toàn bộ Video của thuannghiack, bạn muốn biết, muốn tìm hiểu về môn nào thì xem tên của băng hình đó mà bấm vào (muốn tiết kiệm thời gian thì ban có thể bấm trực tiếp vào Google: chữ thuannghiakc. Và tên của môn Dưỡng Sinh mà bạn quan tâm, ví dụ : thuannghiakc. bat doan cam thì sẽ hiện lên các băng hình về Bát Đoạn Cẩm, thuannghiakc. dich can kinh, thì chỉ sẽ hiện lên băng hình về Dịch Cân Kinh, thuannghiakc. luc tu khi cong (lục tự khí công), thuannghiakc. ngu cam hy (Ngũ Cầm Hý)…..

4)    Khi băng hình từ Youtube hiện lên, muốn tìm hiểu xuất xứ và cách luyện tập phụ đề bằng tiếng Việt thì bấm vào phần : Weitere infos dưới hình đại diện bên phải màn hình sẽ hiện ra tất cả hướng dẫn luyện tập bằng tiếng Việt.

(hầu hết các băng hình đều thuyết minh bằng Anh Ngữ, Hoa Ngữ và Đức Ngữ)

Trong tất cả các pho Dưỡng Sinh cổ truyền đang lưu truyền trong dân gian, có một pho rất đơn giản về thế thức, nhưng rất huyền nhiệm về tác dụng. Không biết thành quả của nó có được phi thường như huyền thoại của  Dịch Cân Kinh hay Bát Đoạn Cẩm hay không, nhưng có một điều chắc chắn là nó hoàn toàn không có tác dụng nguy hiểm như một số môn Dưỡng Sinh tuyệt nghệ khác.
Đó là bộ KHÍ CÔNG TÂM PHÁP BIỆT TRUYỀN của Phật Gia. (Một số người nhầm gọi là Khí Công Tâm Pháp Bí Truyền. Gọi là “biệt truyền” là vì chỉ lưu truyền phổ cập trong Phật Giáo, là môn Khí Công chuyên biệt nhằm giúp đỡ cho các hành giả Thiền được có nhiều khí lực bền vững trong việc ngồi Thiền, Quán Tưởng lâu dài, chứ có bí mật gì đâu mà “bí truyền”.)
Tuy là một bộ Khí Công đơn giản về chiêu thức dành cho giới Thiền Định, nhưng bộ Khí Công Tâm Pháp Biệt Truyền này hàm chứa đầy đủ các tác dụng của một môn Dưỡng Sinh hoàn chỉnh.
4 thức (bốn động tác) của Khí Công Tâm Pháp Biệt Truyền (KCTPBT) mang bốn cảnh giới diệu dụng của Dưỡng Sinh. Đó là Khai Mở Kinh Mạch Huyệt Vị, Tích Lũy Nội Lực, Hoạt Khí- Hành Huyết, và Định Tâm
Nếu không phải luyện tập để trị những bệnh chuyên biệt. Thì một người bình thường chỉ cần luyện tập 4 thức Khí Công giản diệu này là quá đủ, thì cái “Trương Mục” sức khoẻ của hành giả (người thực hành công phu) cũng dư xài với “trăm năm bể khổ trần ai” này rồi.
Cái đặc biệt của pho KCTPBT này là cách thổ nạp hô hấp cùng với sự vận động thủ túc, rất tự nhiên và đơn giản. Và đó cũng là những đặc điểm mà ba pho Dưỡng sinh của 3 vị Đại Sư Giác Độ, Khổ Toại và Hằng Trường đều có nét tương tự nhau.
Bởi vì ngoài những thể thức đúc kết tinh hoa từ các pho dưỡng sinh cổ truyền để sáng tạo nên những tuyệt kỷ khác nhau phù hợp với thời hiện đại, thì 3 pho dưỡng sinh của ba vị Đại Sư nói trên có nền tảng thâu nhiếp hô hấp từ pho KCTPBT, cho nên trong phần này tôi xin trình bày hơi kỹ về Khí Công Tâm Pháp Bí Truyền này.

 * Bấm vào đây để xem tôi trình bày 4 thức trong Khí Công Tâm Pháp Biệt Truyền:

      http://www.youtube.com/watch?v=pOAQnVR4dGc

Đệ nhấtThức: Chuyễn Nhâm Đốc
Động tác này nhằm mục đích vận động khai mở hai kinh mạch chính trong cơ thể. Mạch Đốc( dương) chạy phía sau lưng và Mạch Nhâm (Âm) chạy phía trước bụng. Đây là hai kinh mạch tổng hội các đường kinh Âm và Dương trong cơ thể. Chuyễn được Nhâm-Đốc cũng đồng nghĩa với việc khai mở vận động tất các các kinh mạch và huyệt vị trong cơ thể, tất nhiên cũng khả năng thức động các Luân Xa (trung khu năng lượng sinh học).


  – Hít vào đồng thời hai chân bước rộng ra bằng vai
_________________________________


– Thở ra, từ từ cúi người xuống phía trước, hai tay buông lỏng tự nhiên xuống đất, đầu cũng theo tay thả lỏng xuống dưới
________


   – Từ từ hít vào và đứng dậy.  Hai tay úp vào phía sau lưng hông, nín thở, và  ngã người ra phía sau


____________________


Thở ra và từ từ cúi gập người xuống phía trước như động tác ban đầu và cứ vậy lặp đi lặp lại nhiều lần như có thể.
_________________________________

2) Đệ Nhị Thức: Tích Nội Lực
Thức này nhằm mục đích thâu liễm và tích lũy nội lực

 
  – Hít vào, chân bước rộng ra bằng vai, hai tay chống vào mạng sườn
_____________________________



    Thở ra và từ từ ngồi xuống thấp (lưu ý càng xuống thấp càng tốt, nhưng vẫn giử một khoảng cách không ngồi hẳn lên bắp chân)
_____________



– Hít vào, đồng thời từ từ đứng dậy
– Nín thở và từ từ nhón chân lên, đồng thời nhóp hậu môn vào
_________

Khi bắt đầu thở ra cũng là lúc từ từ thả người ngồi xuống như động tác ban đầu, và tiếp tục lặp lại động tác với khả năng có thể (5-7 lần là được)
______________

3) Đệ Tam Thức:  Hoạt Khí


Chân bước rộng ra bằng vai, xuống thế trung bình tấn
__________________________


Hít vào đồng thời hai tay từ từ dang rộng ra hai bên, cánh tay thẳng, cổ tay buông lỏng, lòng tay sấp, rủ bàn tay xuống dưới, quay ra sau và lên trên quá đầu.

________

   Thở ra, đồng thời hai tay hạ xuống trước mặt, cánh tay thẳng, lòng bàn tay hướng ta ngoài, ngón tay chỉa lên trên,  từ từ cùng với hơi thở, hai tay hạ xuống ngang hông, và lặp lại động tác cũ
________
4) Đệ Tứ Thức:
Bình Tâm Định Thần. Thức này nhằm mục đích dẫn ý, định tâm và thâu liễm khí Hậu Thiên (dinh dưỡng, hô hấp) hoá nhập với khí Tiên Thiên (nguyên lực nội tại)


– Bước chân ra bằng vai, xuống trung bình tấn, hai tay khép vào ngang hông, lòng bàn tay ngữa thẳng lên trên
– Vẫn giử nguyên tư thế ấy từ từ hít vào.


– Giử nguyên hơi thở đan điền, hai tay quay hai vòng tròn phía trước mặt. Tay trái theo chiều kim đồng hồ, tay phải ngược chiều kim đồng hồ, đường kính của vòng tròn khoảng 30 đến 40 cm. Lúc hai tay quay vòng tròn thì dùng ý tưởng tượng trên đó có hai quả cầu lửa

Chỉ có lúc nín thở, hai tay mới quay vòng tròn ngược nhau, còn lúc hít vào thở ra hai tay luôn ở vị trí ngang hông
__________________________


Quay được 2 hoặc 3 vòng (tùy khả năng hơi thở nín được dài hay ngắn) thì rút tay vào hông như củ, lúc này mới từ từ thở ra

Vì thức này là thức hóa nhập, bình tâm, định thần, nhờ vào sự  vận chuyễn giao hòa giữa khí Tiên Thiên và Hậu Thiên, cho nên khi luyện thức này đòi hỏi phải có sự vận động tích lũy và hoạt khí của các thức trước mới có hiệu dụng. Nếu chưa đầy đủ khí lực nhờ luyện tập các thức trước mà luyện nay vào Đệ Tứ Thức thì không nên, vì thiếu mất nền tảng khí lực, nên việc định tâm, hóa thần rất khó khăn, đôi khi còn bị bồn chồn bất an nữa.
______
Bấm vào đây để xem các vị Đại Sư Thiền Tông hướng dẫn cách luyện tập Khí Công Tâm Pháp Biệt Truyền:

http://www.youtube.com/watch?v=RVRdpPcXTwE
___________________
 * Lưu Ý:
 – Đối với các Y Sư, nếu đã có nền tảng luyện tập các môn dưỡng sinh khác từ trước, sau đó thực hành luyện tập rốt ráo Đệ Tứ Thức thì nhờ sự lưu dẫn kích hoạt của khí Tỳ Vị (Khí Hậu Thiên) (Ý Niệm là khí hóa của Tỳ Vị), mà có được Chân Khí vững mạnh để làm tăng Y Lực lên rất cao (tăng sự “mát tay”- ví dụ như vận khí vê kim, tấn kim trong châm cứu chẳng hạn…)
– Theo kinh nghiệm của nhiều hành giả có công phu tu tập các môn dưỡng sinh uyên sâu, thì Khí Công Tâm Pháp Bí Truyền có thể là một môn, sử dụng như một môn khởi động trước tất bất kỳ cuộc luyện tập về thể chất nào cũng đều có tác dụng rất huyền nhiệm
– Ngoài ra nếu người luyện tập chỉ chuyên tâm trì luyện 4 thức khí công này, thì thành quả của nó cũng không thua sút gì các môn tuyệt kỷ khác như Dịch Cân Tẩy Tủy Kinh, Bát Đoạn Cẩm, Ngũ Cầm Hý….

(Còn nữa)
___
05.03.10
Biên Soạn
Quảng Nhẫn Lê Thuận Nghĩa

Bài thuốc chữa vô sinh nam hiệu quả 

Chứng không có tinh trùng
Lý luận phân tích theo đông y: Thận khí tiên thiên hao tổn, tì khí hậu thiên không mạnh, can mất tác dụng thúc đẩy sự sinh sản làm cho tinh trùng không có.
Cách chữa : Bổ ích tì thận bình can.
Bài thuốc: Tứ quân bát vị hợp tễ gia vị.
Công thức: Thục địa 50g, Sơn dược 10g, Đơn bì 10g, Trạch tả 10g, Phụ tử 10g, Sài hồ 10g, Bạch thược 10g, Câu kỉ 25g, Vân linh 15g, Bạch truật 15g, Nhân sâm 20g, Đương qui 30g, Cam thảo 5g.
Ghí chú: Thuốc cần bào chế để có hiệu quả như mong muốn- Toa này là thuốc sống chưa bào chế
Sắc uống mỗi ngày 1 thang.
Thuốc viên uống kèm: Lộc nhung hòan, Hà sa đai tạo, Bát vị sâm nhung
Sáng – trưa -tối liều lượng thích hợp
Xét nghiệm cần làm: Tinh dịch đồ trước và sau khi uống thuốc
Bàn luận: Tinh chất của sự ǎn uống gọi là tinh của hậu thiên, thận là tiên thiên, tì là hậu thiên, tinh tiên thiên (sinh dục), được tinh của hậu thiên (ẩm thực) nuôi dưỡng thì mới có thể sản sinh ra tinh trùng liên tục, mà trong việc ǎn uống dinh dưỡng của hậu thiên, thức ǎn muốn biến thành chất dinh dưỡng, tinh phải dựa vào sự ôn dương của thận khí, thận khí có sung túc thì mới làm cho bệnh môn tướng hỏa chuyển được vào can đởm để có thể giúp cho sự tiêu hóa của tì vị, do dó bệnh này phải áp dụng phép bổ ích tì thận bình can. Dùng bài “Tứ quân bát vị hợp tễ gia vị”, sau khi uống hết 21 thang, khám tinh dịch thấy đặc dính như mầu xám, mỗi mm3 có khoảng 60 triệu tinh trùng. Uống tiếp bài này 15 thang nữa tinh trùng tǎng lên tới 70 triệu, 80% có sức hoạt động.

(Theo thaythuoccuaban.com)

Để tìm hiểu thêm các bạn có thể vào trang http://www.thaythuoccuaban.com. Tại đây bạn có thể nói chuyện, tâm sự và nhận được sự tư vấn trực tiếp của Lương y Quốc gia Nguyễn Hữu Toàn. Bạn có thể hoàn toàn yên tâm khi được Lương y Nguyễn Hữu Toàn bắt bệnh và chữa trị khỏi bệnh vô sinh chỉ khoảng 12 – 20 tuần sử dụng thuốc. Các bệnh nhân ở xa sẽ được chuyển thuốc đến tận nơi, theo địa chỉ bệnh nhân cụ thể. Nếu bạn có thắc mắc về sức khỏe của mình, bạn có thể vào trang http://www.thaythuoccuaban.com/benhan.asp kể bệnh để nhận được sự tư vấn của Lương y
Phòng khám đông y Nguyễn Hữu Toàn – Lô 22 – Lê Hồng Phong – Ngô Quyền – Hải Phòng
ĐT: 19006834 – 031.7300111

Giadinh.net – Nhờ có bài thuốc kỳ diệu của mẹ con mế Tặng Thị Mụi mà người Dao hai bản Hạ Sơn và Pù Quăn, xã Pù Nhi, huyện Mường Lát, Thanh Hoá lại được mọi người gắn lại bằng cái tên chung: bản chữa vô sinh. Mỗi bản có đến hàng chục người hành nghề thầy thuốc chữa bệnh nan y. Nhưng bài thuốc chữa vô sinh của mế được nhiều người biết đến nhất.

Mế Tặng Thị Mụi 86 tuổi vẫn lên núi hái thuốc.

86 tuổi vẫn lên núi cao hái thuốc

Người Dao ở Hạ Sơn phần lớn trước đây ở bản Pù Quăn. Đó vẫn là nơi vắng vẻ hoang vu, cao chạm đáy trời, đường lên vắt vẻo. Cũng bởi những khó khăn đó, cách đây 7 năm, Tỉnh uỷ Thanh Hoá đã đề nghị các cơ quan, chính quyền địa phương đỡ đầu, vận động các bản sống trên núi cao xuống núi dựng bản mới. Hạ Sơn là một trong những bản đó và cái tên Hạ Sơn cũng xuất phát từ chủ trương này.

Đến Hạ Sơn, mế Tặng Thị Mụi là người đầu tiên tôi muốn tìm bởi bài thuốc chữa vô sinh của mế đã được lan truyền khắp chốn. Vừa dẫn chúng tôi đi, ông Triệu Văn Lai, Phó Chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra, Huyện uỷ Mường Lát giải thích: “Mế Mụi bận lắm, không hẹn trước mà muốn gặp được mế phải đến nhà từ lúc tờ mờ sáng”. Quả thực, khi chúng tôi đến cổng nhà Mế dù sương mù vẫn giăng kín lối, đã thấy mế lưng khoác gùi tất tả đi ra cổng. Dù bị chúng tôi làm phiền và mất một ngày đi lấy thuốc, mế Mụi vẫn hồn hậu tiếp đón.

Mế Mụi bên những bị thuốc.

Năm nay, mế đã bước sang tuổi 86 nhưng sức khoẻ thì ít ai bì kịp. Đôi chân chắc nịch của mế hàng ngày vẫn thoăn thoắt vào tận rừng sâu hái thuốc. Mế chỉ trở về nhà khi chiếc gùi thảo dược sau lưng đã đầy ú hụ. Mế kể, có những lần mải mê tìm cây thuốc quý, bị kẹt trên núi cao khi tối đã nhọ mặt người. Mế phải lần tìm đường ra rồi ngủ lại trong nhà người quen ở bản Pù Quăn. Sáng hôm sau, mế phải dậy thật sớm để về nhà nhưng khi đó, con trai mế đã bổ đi tìm, con gái, con dâu hai mắt đã đỏ hoẻ, sưng húp vì lo sợ điều chẳng lành.

Cũng như nhiều người Dao khác, mế Mụi từ bản Pù Quăn chuyển xuống. Suốt năm đầu tiên ở Hạ Sơn, mế không sao ngủ được. Mế đã quen sống trên đỉnh Pù Quăn cao chót vót với bốn bề là cây thuốc quý. Mế tâm sự: “Xuống Hạ Sơn chỉ thích nhất là được chữa bệnh cho nhiều người nhưng đường đi lấy thuốc xa quá. Chỉ sợ ít năm nữa, đôi chân mế sẽ mỏi”. Gần 40 năm kinh nghiệm, khi chuyển xuống Hạ Sơn, mế giúp được nhiều người thoát khỏi những chứng nan y, trong đó kỳ diệu nhất là chữa khỏi bệnh vô sinh, hiếm muộn.

Tác giả và mế Mụi.

Một thang thuốc chữa ba căn nguyên

Mế Mụi quan niệm về căn nguyên gây nên hiếm muộn khá đơn giản: Một là do chồng, hai là vì vợ và ba là tại cả hai. Nên để trị đủ cả ba nguyên nhân đó, mế thường bốc thuốc cho cả hai người. Theo mế, loại thuốc này uống vào không có tác dụng phụ, bởi thế, người có bệnh uống vào sẽ hết bệnh, người không có bệnh dùng thuốc sẽ khoẻ ra.
Mế Mụi tâm sự: Cây thuốc chữa hiếm con là khó tìm nhất. Nhiều loại chỉ có trên đỉnh cao nhất của núi Pù Quăn. Ngày còn ở Pù Quăn, để bớt công đi kiếm, mế mang giống về trồng ở núi sau nhà. Khi chuyển về Hạ Sơn, mế cũng mang giống cây xuống trồng nhưng không hợp đất, nên dù được chăm chút kỹ lưỡng nhưng cây thuốc vẫn không sống được. Để kiếm được một thang thuốc hiếm muộn, ngoài những thứ thân cây, rễ cây mế trồng được thì những loại thảo dược quý quan trọng trong thang thuốc mế vẫn phải một mình lặn lội vào tận chốn rừng thiêng nước độc để tìm kiếm.

Mế Mụi và con cháu.

Mấy chục năm vào rừng kiếm thuốc, mế đã quen từng hốc cây, khe suối. Nơi cư trú của các loại cây thuốc, mế thuộc như lòng bàn tay, khi cần chỉ khoác gùi vào lấy. Nhưng theo lời mế, cũng có một vài loại cây “làm đỏm” (đỏng đảnh) khiến mế không thể nắm bắt được nơi sinh sống của chúng, nên có tìm được cũng phần nhiều là nhờ may mắn.
Một trong những loại cây thuốc quý nhưng khó tìm nhất là củ nâu sần (tên mế tự đặt cho loại củ thuốc có thân dài hơn củ nâu, vỏ sần sùi, chi chít những sơ dài cứng), vị thuốc không thể thiếu trong thang thuốc chữa hiếm muộn và chứng “bất lực” ở nam. Có lần, mế phải nhờ con trai đưa sang Lào để tìm kiếm loại cây thuốc quý này. Nhưng khi gặp, cũng phải chọn những cây đã già cỗi để đào thì mới thật sự có công dụng.

Lấy thuốc để làm phúc

Mế Mụi đông con, nhiều cháu không chỉ do đẻ hết con để được tiếp cận bí quyết nghề thuốc mà gần 40 năm hành nghề, mế đã được rất nhiều người nhận làm mẹ nuôi nhờ ơn trời bể mế dành cho họ. Mế quan niệm biết bốc thuốc là để làm phúc, cứu người. Người có bệnh đến với mế dù nghèo cũng không phải lo trong túi không có tiền. Cứ đến với mế, mế thấy ưng cái bụng là khoác gùi vào rừng kiếm cho liền. Khi bệnh đã khỏi thì hậu tạ mế thế nào cũng được, thậm chí một chai rượu trắng cũng xong.

Chị Thào Thị Ẻ là một trong những bệnh nhân mang ơn trời bể của mế Mụi.

Hôm chúng tôi đến nhà mế, may mắn gặp được chị Thào Thị È, bản Poọng, xã Quang Chiểu – một trong những bệnh nhân mang ơn trời bể của mế. Chị È tâm sự: “Tôi lấy chồng 5 năm, nhưng không có con. Ngày đó, tôi hay bị nhà chồng rủa là thằng Cả (chồng chị È) lấy phải con “trâu đực” rồi. Một lần xuống Hạ Sơn, vào nhà bạn chơi, bạn tôi mách cho gặp mế Mụi. Sau ba tháng uống thuốc của mế tôi đã có tin vui và nhận mế là mẹ nuôi”.

Cũng như nhiều bệnh nhân nghèo khác, chị È chỉ hậu tạ mế một chai rượu trắng. Thậm chí, sau khi đã là con nuôi của mế, vài ba tháng chị lại bế con xuống thăm, ăn ở nhà mế cả tuần trời nhưng quà mang biếu chỉ là ít nấm rừng tự hái được.

Hoàn toàn khác với mế, một số phụ nữ Dao cũng hành nghề bốc thuốc mà chúng tôi gặp họ chỉ bằng tuổi con cháu của mế, nói năng bạo miệng, ra giá mỗi thang thuốc với giá “cắt cổ” 100.000 đồng/thang. Để bán được thuốc, họ ra sức quảng cáo cho bài thuốc gia truyền của mình có thể chữa bách bệnh, thậm chí, muốn lấn lướt cả công dụng thuốc của bậc tiền bối.
Chị Sùng Thị Lé, 35 tuổi bản Hạ Sơn cho biết: “Nhà tôi làm thuốc gia truyền. Tôi lấy được thuốc đau đầu, đau dạ dày, đại tràng, thuốc chữa nghiện. Thang thuốc chữa nghiện của mế Mụi chỉ có 12 loại thảo dược nhưng thuốc của tôi có tới 30 loại thảo dược quý hiếm. Người mắc nghiện chỉ cần uống trong 3 ngày là cắt được cơn. Sau 7 ngày sẽ không còn cảm thấy thèm thuốc nữa”.
Tuy nhiên, một loại bệnh mà không người Dao nào dám vượt mặt mế và con gái Tặng Thị Diện của mế (hiện vẫn ở trên đỉnh Pù Quăn) đó là thuốc chữa vô sinh. Đây là bài thuốc do mẹ chồng mế truyền dạy, nhưng trước đây chưa từng phải dùng đến.

Hai phụ nữ người Dao và thuốc chữa bệnh vô sinh.

Ngày đó, người Dao, người Mông, người Thái, người Mường thấy ưng cái bụng nên đôi nên lứa. Về ở với nhau năm trước, năm sau đã con cái đề huề. Thậm chí, sinh con sòn sòn, phanh không kịp. Nhưng cách đây chục năm, chẳng hiểu do đâu, người hiếm muộn ngày một nhiều. Không chỉ những người sống nơi phố xá mà nhiều người con của núi rừng cũng mắc phải. Tiếng lành đồn xa, họ tìm đến với mế.

Đến bây giờ, mế không thể nhớ nổi mình đã mang lại tiếng cười trẻ thơ cho bao nhiêu cặp vợ chồng. Chỉ biết rằng, những người nhờ dùng thuốc của mế mà con cái đề huề thường nhận mế là mẹ nuôi. Mế cũng không nhớ hết mình có bao nhiêu đứa con, đứa cháu như thế, chỉ biết rằng, khi năm hết Tết đến, chúng đến chật kín trong nhà, ngoài ngõ.

Sẽ xây dựng khu tắm thuốc của người Dao

Theo ông Ngô Kim Dũng, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa huyện Mường Lát thì bản Pù Quăn và Hạ Sơn từ lâu đã nổi tiếng về nghề làm thuốc. Trong đó, bài thuốc dành cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai và sau khi sinh nở đã được phụ nữ trong cả nước sử dụng và công nhận về hiệu quả thực sự của nó. Sau khi sinh, phụ nữ người Mông, người Thái, người Dao… tắm thứ thuốc lá đó là chưa đầy tuần, họ đã phăm phăm đi rẫy làm nương. Còn bài thuốc của mẹ con mế Mụi, nhiều người trong vùng đã sử dụng và ca ngợi về nó nhưng giá trị đến đâu thì đến thời điểm này vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá về nó.

Ông Hà Văn Duyệt, Bí thư Huyện ủy Mường Lát.

Ông Hà Văn Duyệt, Bí thư Huyện uỷ Mường Lát khẳng định: “Tôi đã từng sử dụng thuốc của người Dao. Một trong những bài thuốc được nhiều người nhận ra ngay tác dụng của nó là tắm lá thuốc. Sau khi tắm lá sẽ cảm thấy cơ thể khoẻ khoắn, da dẻ mịn màng. Để khách đến Mường Lát biết được cái tài hái thuốc của người Dao, sắp tới huyện sẽ tiến hành khảo sát, tìm hiểu tiềm năng cung cấp dược thảo của đồng bào Dao. Nếu đạt yêu cầu, huyện sẽ xây dựng những khu tắm thuốc kết hợp du lịch sinh thái ở hai bản có nghề làm thuốc nổi tiếng này”.

Muốn hành nghề phải theo “luật”
Theo mế Mụi, ngày trước học cách lấy thuốc, làm thuốc khó khăn lắm và phải tuân theo nhiều luật lệ. Còn bây giờ, các nàng dâu mới về nhà chồng, nếu muốn học mẹ chồng đều phá lệ truyền cho. Nhưng duy nhất bài thuốc chữa vô sinh thì nhất định nàng dâu đó phải hết tuổi đẻ mới được tiếp cận bí kíp. Theo phong tục người Dao, nếu người phụ nữ vẫn còn khả năng sinh sản, dù có lên rừng may mắn hái được thuốc quý chữa căn bệnh này thì thuốc cũng “mất thiêng”. Còn đời mế, mẹ chồng chỉ truyền những bí kíp chữa bệnh khi con dâu hết tuổi đẻ con. Bởi thế, sau tuổi 50, khi không còn đẻ được nữa, mế mới được theo mẹ chồng cõng gùi vào rừng nhận mặt cây thuốc. Khi đó, mế mới biết, những cánh rừng bạt ngàn ở Pù Quăn là một “kho báu” về thảo dược.

 

Thứ năm 29/12/2011 06:02
Bài thuốc chữa vô sinh này đặc biệt ở chỗ chỉ cần đôi ba loại rễ củ trong rừng đã có thể mang niềm vui “sòn sòn” đẻ con đến những người mắc bệnh hiếm muộn.
Người nắm giữ bí quyết này là một bà lão dân tộc Tày tên Hoàng Thị Hậu (thường gọi là Bình, 76 tuổi, ngụ thôn Nà Hán, xã Gia Cát, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn).

Cây hoang dại, tác dụng thần kỳ

Những ngôi nhà được xây bằng tường đất trong thôn Nà Hán nằm lấp ló sau những rặng tre dọc con sông Kỳ Cùng. Vừa vào đến đầu xã hỏi tên bà lão chữa được bệnh vô sinh thì từ trẻ đến già ai cũng biết. Một phụ nữ đang giặt quần áo ở sông Kỳ Cùng nhanh nhảu chỉ đường cho chúng tôi: “Ai chứ nhà bà Bình thần y chữa bệnh vô sinh ở vùng này thì ai chả biết. Các chú cứ qua khỏi bờ sông này, phía sau rặng tre kia chính là nhà của “thần y” đấy”. Thì ra, người dân trong vùng đặt biệt danh cho bà lang này bằng một cái tên đầy vẻ ngưỡng mộ và khâm phục là “thần y chữa vô sinh”.

 

Bà lão có khuôn mặt phúc hậu ban đầu giãy nảy khi biết ý định của chúng tôi: “Tôi chỉ chữa làm phúc, không lấy tiền của ai, mà bài thuốc là tổ tiên truyền lại nên có công lao gì đầu mà lên báo”. Phải đến khi được thuyết phục là biết đâu bài thuốc của bà có thể sẽ mang đến nhiều niềm vui cho những cặp vợ chồng hiếm muộn, bà mới từ tốn kể câu chuyện về mình.

Bà lão cho biết đây là bài thuốc gia truyền, được mẹ đẻ bà truyền lại. Bà có bảy chị em gái và là người được mẹ yêu quý nhất nên truyền lại công thức bí truyền. “Từ khi biết bài thuốc này, tôi đã chữa cho rất nhiều trường hợp vô sinh có con.

Tôi không nhớ cụ thể là bao nhiêu trường hợp, nhưng có lẽ phải hàng trăm đứa trẻ”, bà lão cười móm mém. Bài thuốc của bà dành cho cả nam và nữ với công thức chữa trị khác nhau. Điều đặc biệt là nguyên liệu để chế bài thuốc này cực kỳ đơn giản. Đối với người nam chỉ cần hai loại cây thuốc, với người nữ là 3 loại cây thuốc và tất cả những loại cây này đều có ở trong rừng tự nhiên.

Đối với bài thuốc dành cho nam giới, nguyên liệu chính gồm 2 loại thuốc là củ cây Khẩu dân (tên gọi theo tiếng Tày, nếu dịch ra tiếng Việt nghĩa là cơm nguội) và một loại rễ cây ở rừng. Củ Khẩu dân với loại rễ cây trong rừng được rửa sạch, giã nát rồi đem ngâm với một lít rượu, để trong một tuần thì bắt đầu sử dụng. Mỗi sáng sớm người đàn ông uống từ 1-2 ly rượu, đồng thời mút một quả trứng gà sống mới đẻ. Mỗi thang thuốc chữa vô sinh của bà Hậu có khoảng 5-6 củ Khẩu dân và một nắm rễ cây rừng.

Bà lão lưu ý: “Tất cả những nguyên liệu này phải còn tươi mới hái xong, nếu để 3-4 ngày thuốc khô là không còn tác dụng. Ngoài ra, rượu ngâm thuốc phải là rượu làng, rượu bản được nấu từ gạo chứ các loại rượu công nghiệp nhiều cồn sẽ làm cho bài thuốc không có tác dụng”.

Trong bài thuốc chữa vô sinh cho nam, cây Khẩu dân thuộc loại cây hiếm, khó tìm trên rừng nên mỗi khi vào rừng, thấy cây này là bà lại đem về trồng luôn trong vườn để mỗi khi có người đến xin thuốc thì không phải lặn lội mất thời gian đi tìm.

Đối với bài thuốc dành cho nữ giới, nguyên liệu gồm có ba loại cây thuốc kết hợp, trong đó một loại là cây nghệ đen và hai loại củ tìm ở trong rừng. Bài thuốc được bà Hậu hướng dẫn chế biến như sau: Cây lá được hái khi còn tươi, mang về rửa sạch rồi giã nát, sắc nhỏ. Thịt một con gà nhỏ khoảng 5-6 lạng. Thuốc, gia vị, gà được cho vào một cái nồi nhỏ rồi hầm cách thủy. Từ khoảng 12h đêm bắt đầu hầm cách thủy, cho đến 4h sáng thì dậy ăn. Chú ý là nên ăn hết cả thuốc và con gà. “Ăn vào khoảng sáng sớm là bài thuốc có tác dụng nhất, vì khi ấy tinh thần thoải mái, cơ thể dễ tiêu hóa”, bà lão nói.

“Chỉ cần dùng vài thang thuốc là đã có kết quả cho cả nam và nữ. Nếu người nào dùng đến 4 thang thuốc mà chưa hiệu nghiệm thì coi như máu người đó không phù hợp với loại thuốc này. Từ trước đến nay có khoảng 80% những người vô sinh dùng bài thuốc này điều hiệu nghiệm”, bà lão quả quyết.

Chỉ làm phúc, không lấy tiền

Chưa thật sự tin vào hiệu quả từ bài thuốc chữa vô sinh của bà lão, chúng tôi đã tìm đến ông Hoàng Văn Ninh, Trưởng trạm y tế xã Gia Cát để xác minh thông tin. Vị Trưởng trạm y tế xã cho biết, bà Hậu là thành viên của hội thuốc nam trong xã, nổi tiếng trong khu vực là người giữ bí quyết gia truyền bài thuốc chữa vô sinh. “Từ trước đến nay, ở trong vùng này hầu như cứ ai bị vô sinh là tìm đến đây và với đa số người hiếm muộn con, bài thuốc của bà lão điều có hiệu nghiệm”, ông Ninh cho biết.

Tiếp tục kiểm chứng sự việc, chúng tôi tìm đến gia đình anh Dương Văn Chuyên (40 tuổi, người trong xã Gia Cát) là người trước đây hiếm muộn nhưng nhờ bài thuốc này mà giờ vợ chồng anh có hai đứa con, một trai một gái kháu khỉnh. Anh cho biết, anh với vợ sau ngày cưới đến sáu năm mà vẫn không thấy vợ mang bầu. Ngày đó dù biết trong làng có bà Hậu là người nắm bài thuốc chữa vô sinh nhưng “Bụt chùa nhà không thiêng”, để chắc chắn hơn anh đã đến bệnh viện và thử đủ các loại thuốc tây nhưng cuối cùng không hiệu quả. Đường cùng, anh mới đến bà Hậu để xin thang thuốc chữa vô sinh.

“Mỗi sáng tôi uống hai chén rượu thuốc của bà lão thì thấy trong người hừng hực, nóng bừng. Sau một tuần tôi thấy người mình khỏe khoắn lạ thường”, anh nhớ lại cảm giác khi uống loại rượu ngâm những rễ cây lạ. Hai tháng sau khi dùng bài thuốc, vợ anh Chuyên đã có bầu. “Tổ ấm chúng tôi hạnh phúc được như bây giờ là nhờ công lớn từ bài thuốc của bà lão”, anh Chuyên nói. Anh phỏng đoán: “Có lẽ bài thuốc có một chất kích thích nào đó tác dụng cực mạnh khiến người uống cảm thấy hưng phấn hơn”.

Đối với “thần y” Hoàng Thị Hậu, niềm hạnh phúc lớn nhất của bà lão là trao quyền làm bố, làm mẹ cho những ông chồng, bà vợ hiếm muộn con. Cũng bởi thế mà dù bài thuốc của bà có tác dụng như vậy nhưng hoàn toàn miễn phí, bà không hề lấy tiền mỗi khi bốc thuốc cho ai, làm công việc đó tự nguyện mà không đòi hỏi lợi ích gì. “Tôi chỉ làm phúc thôi, không bán lấy tiền. Ai cần thuốc tìm đến thì tôi lên rừng hái cho họ. Tôi cũng là một người mẹ nên tôi hiểu cảm giác một người phụ nữ không có con đau khổ như thế nào. Giúp được cho họ được làm bố làm mẹ là tôi thấy vui rồi, bởi thấy mình đã làm được việc có ích”, bà Hậu nói.

Ngừng lại một lúc, bà lão lại hớn hở hấp háy đôi mắt: “Giờ già rồi nhưng tôi cảm thấy sướng, vì ngoài con cái ruột rà trong gia đình ra, tôi có hàng trăm đứa con nuôi khác. Ở vùng này, cứ vợ chồng nào nhờ bài thuốc của tôi mà có con là khi sinh con ra họ đều nhận tôi làm mẹ nuôi. Sướng nhất là ở bốn phương đều có con cái của mình”.

Thật khó tin là giữa thời buổi kinh tế thị trường nhiều người coi trọng đồng tiền, lại có bà lão chữa bệnh tài tình mà không hề lấy một đồng tiền công. Thế nhưng những thông tin bà lão nói đều được vị trạm trưởng y tế xác nhận. Mà nhìn lại ngôi nhà bà lão đang sống, chúng tôi mới thấy áy náy với bản thân vì đã vội nghi ngờ bà: Gian nhà chẳng có vật dụng gì đáng giá, chiếc giường đơn sơ với vài chiếc túi ni lon đựng quần áo của bà được xếp gọn gàng.

Hỏi bà sao không lấy chút tiền của người bệnh vì bà xứng đáng được thế, bà lại móm mém cười: “Chỉ là cây rừng nên đâu có mất tiền. Mà bà già rồi, làm phúc là vui chứ tiền bạc làm gì nữa”.

Minh Hữu/Pháp luật & Thời đại

 

Tag Cloud